high_manner2003

New Member
Link tham khảo tài liệu cho AE

PHẦN MỞ ĐẦU 4

PHẦN I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 6

Chương I: Thành phần, tính chất và công dụng của dầu nhờn 6

I.1. Thành phần của dầu nhờn gốc. 6

I.2. Các tính chất cơ bản của dầu nhờn. 8

I.2.1. Khối lượng riêng và tỷ trọng: 8

I.2.2. Độ nhớt của dầu nhờn. 8

I.2.3. Chỉ số độ nhớt. 9

I 2.4. Điểm đông đặc, điểm vẩn đục: 13

I 2.5. Nhiệt độ chớp cháy của dầu nhờn: 13

I 2.6. Trị số axit, trị số kiềm, axit - kiềm tan trong nước: 14

I 2.7. Kiểm nghiệm ăn mòn mảnh đồng: 15

I.2.8. Hàm lượng tro và Tro sulfat trong dầu bôi trơn: 15

I.2.9. Hàm lượng cặn cacbon của dầu nhờn: 15

I 2.10. Độ ổn định oxy hoá của dầu bôi trơn: 16

1 3. Công dụng của dầu bôi trơn 16

Chương II: Công nghệ sản xuất dầu nhờn gốc 18

II. 1 Mục đích và ý nghĩa của quá trình. 18

II.2. Thành phần và tính chất của phân đoạn dầu nhờn. 18

II 2.1. Đặc tính của mazut dùng làm nguyên liệu dể sản xuất dầu nhờn 19

II 2.2. Đặc tính của cặn gudron làm nguyên liệu sản xuất dầu nhờn có độ nhớt cao: 20

1. Nhóm chất dầu: 20

2. Nhóm chất nhựa 20

3. Nhóm asphanten: 21

II.3. Công nghệ sản xuất dầu nhờn gốc. 21

II.3.1 Sơ đồ Công nghệ chung: 21

II 3.2. Chưng cất chân không nguyên liệu cặn mazut: 22

II 3.3. Các quá trình trích ly, chiết tách bằng dung môi: 23

II. 3.3.1. Quá trình khử asphan trong phần cặn gudron: 24

II.3.3.2. Các quá trình tách ly bằng dung môi chọn lọc: 25

II 3.4. Quá trình tách sáp: 30

II. 3.4.1. Quá trình tách sáp bằng phương pháp kết tinh: 30

II. 3.4.2. Tách sáp bằng dung môi chọn lọc: 30

II. 3.5. Quá trình làm sạch bằng hydro: 31

II.3.6. Xu hướng cải tiến công nghệ sản xuất dầu gốc: 32

Chương III: Công nghệ sản xuất dầu nhờn gốc dùng phương pháp trích ly bằng phenol 35

III.1. Mục đích và ý nghĩa của quá trình trích ly bằng dung môi chọn lọc. 35

III.2. Sơ đồ nguyên tắc của quá trình trích ly lỏng - lỏng. 36

III. 3. Dung môi phenol. 38

III.4. Lựa chọn sơ đồ công nghệ và chế độ của q úa trình. 39

III.4.1. Lựa chọn sơ đồ công nghệ: 39

III.4.2. Sơ đồ trích ly bằng dung môi phenol 41

III 4.3. Thuyết minh sơ đồ công nghệ: 42

III. 4.4. Chế độ công nghệ: 44

III 4.4.1. Chế độ nhiệt: 44

III 4.4.2. Tỷ lệ phenol / nguyên liệu: 45

III.4.4.3. Sự đưa thêm nước vào: 46

PHẦN II. TÍNH TOÁN CÔNG NGHỆ 47

IV. Số liệu ban đầu 47

IV.1. Tính cân bằng vật chất cho tháp trích ly 47

1. Dòng vào 47

2. Dòng ra 48

PHẦN III. TÍNH XÂY DỰNG 50

V.1. Lựa chọn điạ điểm 50

1. Các yêu cầu chung 50

2. Yêu cầu về kỹ thuật xây dựng. 51



V.2. Thiết kế tổng mặt bằng nhà máy 52

1. Yêu cầu thiết kế tổng mặt bằng nhà máy 52

2. Nguyên tắc thiết kế tổng mặt bằng nhà máy. 53

V.3. thuyết minh phần xây dựng. 55

1. Đặc điểm xây dựng. 55

2. Bố trí mặt bằng xây dựng. 56

PHẦN IV: AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 59

VI.1. An toàn lao động trong phân xưởng sản xuất dầu nhờn 59

1. Công tác phòng chống cháy nổ: 59

2. Trang bị phòng hộ lao động. 61

3. Yêu cầu đối với vệ sinh môi trường. 62

VI.2. Bảo vệ môi trường 62

1. Ý nghĩa của vấn đề bảo vệ môi trường. 62

2. Bản chất và biện pháp bảo vệ môi trường. 64

KẾT LUẬN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68


Phần mở đầu

Ngay từ thời kỳ đồ đồng, tức khoảng 3000 - 2000 năm trước công nguyên, cuộc sống con người đã bắt đầu có nhu cầu nâng cao về sinh hoạt. Chính trong thời kỳ này đã bắt đầu có rất nhiều phát minh có giá trị cho tới ngày nay như sự xuất hiện của chữ viết, chữ số, thiên văn học… Chủ yếu nhất là chế tạo ra xe hai bánh và các cỗ xe kéo. Đó là những phương tiện đầu tiên đòi hỏi phải dùng các chất bôi trơn. Như vậy, từ thời xa xưa kỹ thuật và các chất bôi trơn không thể tách rời.
Có rất nhiều chất liệu có thể dùng bôi trơn, tuy nhiên ở thời điểm đó con người chưa có khái niệm về dầu nhờn. Tất cả các loại máy móc đều được bôi trơn bằng dầu mỡ lợn, sau đó là dầu ôliu, và dầu thảo mộc…
Khi ngành chế biến dầu mỏ ra đời, con người đã dần dần tiếp cận và khám phá ra những chức năng của dầu nhờn đã vượt trội so với các dầu bôi trơn trước đó. Có thể nói các thiết bị máy móc nếu không có dầu bôi trơn thì không thể hoạt động được; và từ đó dầu nhờn được sử dụng phổ biến.
Hiện nay nước ta có khoảng 8 triệu công cụ liên quan đến bôi trơn bằng dầu mỡ với tài khoản vào khoảng vài tỷ đô la. Do chính sách đổi mới kinh tế của Nhà nước, tốc độ đầu tư ngày càng tăng về số lượng và tài sản thiết bị có liên quan đến sử dụng dầu bôi trơn ngày càng lớn. Vấn đề quan trọng là làm sao sử dụng được các trang thiết bị có hiệu quả. Hiện nay trong nhiều ngành kinh tế, thời gian sử dụng máy móc chỉ ở mức 30%. Trong những nguyên nhân gây ra sự hao mòn chi tiết thì nguyên nhân mài mòn vẫn là chủ yếu.
Không chỉ ở các nước đang phát triển mà ngay cả ở các nước công nghiệp phát triển, tổn thất về ma sát, mài mòn do sử dụng dầu bôi trơn và kỹ thuật bôi trơn chưa đúng đã chiếm tới vài phần trăm tổng thu nhập quốc dân.
ở nước ta, theo đánh giá của các chuyên gia dầu khí, thiệt hại do ma sát mài mòn và các chi phí bảo dưỡng hàng năm vào khoảng vài triệu đô la Mỹ.
Tổn thất do ma sát mài mòn gây ra có nhiều nguyên nhân, nhưng do thiếu dầu bôi trơn và sử dụng dầu bôi trơn với độ nhớt và phẩm cấp không phù hợp chiếm tới 30%. Vì vậy, sử dụng dầu bôi trơn có chất lượng phù hợp với quy định của nhà chế tạo máy thiết bị, kỹ thuật bôi trơn đúng có vai trò lớn để đảm bảo thiết bị làm việc liên tục, ổn định, giảm chi phí bảo dưỡng nhằm nâng cao tuổi thọ của động cơ, hiệu suất sử dụng và độ tin cậy của máy móc.
Tuy nhiên, để sản xuất dầu nhờn đảm bảo những yêu cầu trên, cần tách các cấu tử không mong muốn trong phân đoạn dầu nhờn. Việc tách các thành phần không mong muốn trong sản xuất dầu gốc được thực hiện nhờ quá trình lọc dầu sẽ cho phép sản xuất dầu gốc chất lượng cao ngay cả với phân đoạn dầu nhờn của dầu thô chưa thích hợp cho sản xuất dầu nhờn.
Sơ đồ công nghệ chung để sản xuất dầu nhờn gốc từ dầu mỏ thường gồm các công đoạn chủ yếu sau:
Chưng chân không nguyên liệu cặn mazut.
Chiết tách, trích ly bằng dung môi
Tách hydrocacbon rắn (sáp hay petrolactum).
Làm sạch lần cuối bằng hydro.
Trích ly là dùng một dung môi có thể hoà tan chọn lọc một hay một vài nhóm cấu tử có trong phân đoạn dầu nhờn nhằm thu được các cấu tử quý dùng để sản xuất dầu nhờn gốc. Phương pháp trích ly rất đa dạng và dung môi cũng nhiều. ở đây ta chỉ nghiên cứu công nghệ sản xuất dầu nhờn bằng phương pháp "Trích ly bằng dung môi chọn lọc - Phenol". Nguyên liệu là phân đoạn dầu nhờn hay dầu cặn nặng thu được từ quá trình khử asphan cặn gudron.
Phần I: Tổng quan lý thuyết
Chưương I:
Thành phần, tính chất và công dụng của dầu nhờn

Dầu nhờn có tầm quan trọng rất lớn trong việc bôi trơn các chi tiết chuyển động, giảm ma sát, giảm mài mòn và ăn mòn các chi tiết, tẩy sạch bề mặt, tránh tạo thành các lớp cặn bùn, tản nhiệt, làm mát và làm khít các bộ phận cần làm kín… Trong các chức năng kể trên thì chức năng bôi trơn là chức năng quan trọng nhất của dầu nhờn. Bôi trơn là biện pháp làm giảm ma sát đến mức thấp nhất, bằng cách tạo ra giữa bề mặt ma sát một lớp chất được gọi là bôi trơn, hầu hết các chất bôi trơn là chất lỏng. Do vậy các chất bôi trơi lỏng (dầu bôi trơn) được biết đến nhiều nhất trong ứng dụng kỹ thuật.
I.1. Thành phần của dầu nhờn gốc.
Dầu gốc chế biến từ dầu mỏ có nhiều chủng loại. Tuy vậy chúng được sản xuất từ quy trình pha trộn trên cơ sở bốn loại nguyên liệu là: Phân đoạn dầu nhẹ (Sôi trong khoảng 350  4000C), phân đoạn dầu trung bình (sôi trong khoảng 4000C - 4500C), phân đoạn dầu nặng (sôi trong khoảng 450oC – 500oC), phân đoạn dầu cặn (sôi khoảng trên 5000C).
Thành phần chủ yếu của dầu nhờn gốc là các hợp phần hyđrocacbon, bao gồm các nhóm khác nhau.
a. Nhóm Hydrocacbon naphten - parafin:
Đây là nhóm hydrocacbon chủ yếu có trong dầu bôi trơn, hàm lượng của chúng có thể lên tới 40  80% tuỳ từng trường hợp loại dầu mỏ. Nhóm này có cấu trúc chủ yếu là hydrocacbon vòng naphten, có kết hợp với nhánh alkyl hay izo - alkyl. Số nguyên tử cacbon trong phân tử có thể từ 20 - 70 nguyên tử cacbon. Loại hydrocacbon này có tính bôi trơn tốt, tính ổn định hoá học tốt, do đó chúng là thành phần tốt của dầu bôi trơn. Ngoài ra còn có các hydrocacbon dạng n - parafin và izo - parafin với hàm lượng không lớn. Mạch cacbon không quá 20 nguyên tử. Loại hydrocacbon này có tính ổn định tốt, tính bôi trơn ít thay đổi theo nhiệt độ, nhưng độ nhớt thấp, nhiệt độ đông đặc cao.
b. Nhóm hydrocacbon thơm và naphten - thơm.
Nhóm này bao gồm các hợp chất trong dãy đồng đẳng của benzen, naphtalen. Đôi khi còn có đồng đẳng của phenantren. Một hợp phần nữa là các hydrocacbon lai hợp giữa vòng naphten và vòng thơm. Nhóm hydrocacbon này dễ bị oxy hoá tạo ra các hợp chất keo nhựa, đồng thời có tính bôi trơn thay đổi nhiều theo nhiệt độ, do đó chúng là hợp phần làm giảm chất lượng của dầu nhờn.

Link Download bản DOC
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:

 
Last edited by a moderator:

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Các chủ đề có liên quan khác

Top