Luận văn: Tương đồng và dị biệt giữa tin phát thanh truyền thống và tin phát thanh hiện đại : Luận văn ThS. Truyền thông đại chúng: 60 32 01
Nhà xuất bản: ĐHKHXH & NV
Ngày: 2006
Chủ đề: Báo chí
Tin phát thanh
Tin tức
Đài tiếng nói Việt Nam
Miêu tả: 98 tr. + Tóm tắt + CD-ROM
Khái quát xu thế làm tin trên báo chí nói chung và trên đài phát thanh nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hoá và cạnh tranh giữa các loại hình báo chí hiện nay. Đồng thời khảo sát tình hình viết tin ở Đài tiếng nói Việt Nam để tạo cơ sở thực tiễn cho những đánh giá, phân tích làm sáng tỏ thực trạng nhằm đưa ra những giải pháp, những thao tác cụ thể có tính khả thi cao để giúp cho những người làm phát thanh dễ dàng chuyển từ lối viết tin truyền thống sang lối viết tin phát thanh hiện đại. Góp phần nâng cao chất lượng các bản tin và chương trình thời sự của Đài tiếng nói Việt Nam
MỤC LỤC
Mở đầu 1 Chương 1: Xu thế phát triển của tin trên báo chí 7 1.1 Thông tin đại chúng trong xu thế toàn cầu hoá 7 1.2 Báo chí Việt nam trong xu thế toàn cầu hoá 8
1.3 Sự tiếp nhận thông tin của công chúng 10 1.4 Cạnh tranh của các phương tiện truyền thông 11 1.5 Xu thế làm tin 13
1.5.1 Xu thế làm tin của báo chí 14 1.5.1.1 Ngắn gọn 14 1.5.1.2 Cấu trúc hiện đại 16 1.5.1.3 Giảm tính lễ tân 18 1.5.1.4 Phản hồi của công chúng (feedback) 20
1.5.2 Xu thế làm tin của phát thanh 24 1.5.2.1 Tin có tiếng động, có phát biểu của nhân chứng 25 1.5.2.2 Đưa tin trực tiếp 29 1.5.2.3 Tăng tính bình luận, phân tích 32
Tiểu kết 34 Chương 2: Tương đồng và dị biệt giữa tin phát thanh truyền 36
thống và tin phát thanh hiện đại trên Đài TNVN
2.1 Đặc điểm của tin phát thanh truyền thống 36 2.2 Đặc điểm của tin phát thanh hiện đại 39 2.3 Tình hình sử dụng tin trên Hệ Thời sự chính trị tổng hợp 44 2.4 Tin phát thanh truyền thống và tin phát thanh hiện đại trong
tương quan với thính giả và người làm phát thanh 46 2.4.1 Với thính giả 46 2.4.2 Với người làm phát thanh 48
2.5 Một số vấn đề rút ra qua khảo sát 51 2.5.1 Tỷ lệ tin phát thanh hiện đại ở Đài TNVN còn thấp 51 2.5.2 Hạn chế về ngôn ngữ 53 2.5.3 Phóng viên chưa chú trọng viết tin hấp dẫn từ đầu 57 2.5.4 Hạn chế về làm tin có tiếng động 61
2.5.4.1 Kết cấu của tin có tiếng động đơn điệu 61
2.5.4.2 Chất lượng âm thanh của tiếng động chưa cao 65 Tiểu kết 68
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy tin phát thanh hiện đại
trên Đài Tiếng nói Việt Nam 69 3.1 Nhóm giải pháp nghiệp vụ 69 3.1.1 Kỹ năng viết câu mở đầu của tin 69 3.1.2 Viết lời dẫn cho tin 72
3.1.3 Kỹ năng biên tập cấu trúc câu để chuyển từ tin phát
thanh truyền thống sang tin phát thanh hiện đại 75 3.1.4 Nâng cao chất lượng tin có tiếng động 80 3.1.5 Tăng cường đưa tin trực tiếp 84 3.2 Nhóm giải pháp tổ chức, kỹ thuật 87 3.2.1 Mở các khoá đào tạo về viết tin hiện đại 87 3.2.2 Nâng cấp hoạt động của Trung tâm tin 88 3.2.3 Cải tiến việc lập kế hoạch đưa tin 92 3.2.4 Ứng dụng công nghệ số trong việc làm tin và đưa tin 94 Kết luận 96
Tài liệu tham khảo Phụ lục
1. Tính cấp thiết của đề tài
MỞ ĐẦU
Được thành lập ngày 7/9/1945, Đài Tiếng nói Việt Nam (từ đây viết tắt là Đài TNVN) là một trong những cơ quan báo chí ra đời sớm nhất ở nước ta. Với lợi thế về khả năng phủ sóng rộng, thông tin nhanh, đa dạng nên Đài TNVN đã thu hút được một số lượng công chúng lớn cả ở trong nước và nước ngoài. Chủ quan mà nói rằng, trước giai đoạn đổi mới, Đài TNVN chiếm vị trí độc tôn trong làng báo chí Việt Nam về đưa tin và chiếm lĩnh công chúng. Tuy nhiên, kể từ năm 1990 trở lại đây, Đài TNVN đứng trước một cạnh tranh khốc liệt về đưa tin và chiếm lĩnh công chúng do sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng khác như truyền hình, báo in, báo điện tử. Nếu không đổi mới cách viết tin và đưa tin thì chắc chắn Đài TNVN sẽ chịu thua thiệt trong cuộc cạnh tranh này. Song cũng phải thấy rằng, tiến trình đổi mới cách viết tin và đưa tin của Đài TNVN gặp nhiều mâu thuẫn cần giải quyết.
- Thứ nhất, lối viết tin truyền thống đã ăn sâu vào tư duy của nhiều phóng viên, biên tập viên của Đài TNVN. Thay đổi cách viết tin từ kiểu truyền thống sang cách viết tin hiện đại là việc không dễ dàng. Vì vậy cần nghiên cứu tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa tin phát thanh truyền thống và tin phát thanh hiện đại, những nguyên nhân dẫn đến việc các phóng viên, biên tập viên của Đài TNVN khó áp dụng cách viết tin hiện đại để từ đó có biện pháp khắc phục.
- Thứ hai, về phía công chúng báo chí tâm lý tiếp nhận thông tin và lứa tuổi đã có sự biến đổi. Thế hệ công chúng gắn bó với Đài TNVN từ cách đây hàng chục năm, quen nghe cách viết tin kiểu truyền thống xu hướng sẽ giảm đi. Thế hệ trẻ càng đông, có điều kiện tiếp xúc nhiều với tin tức được viết theo kiểu hiện đại trên các báo in, báo điện tử, truyền hình. Do vậy, cần
1
nghiên cứu về sự tác động của tin phát thanh truyền thống và tin phát thanh hiện đại đối với công chúng để giúp cho những người làm phát thanh định hướng được cách thức tiến hành đổi mới cách viết tin
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có nhiều nghiên cứu về tin phát thanh dưới các góc độ khác nhau như về ngôn ngữ, thể loại... Một số sách xuất bản ở trong nước đã đề cập đến tin phát thanh, có thể kể ra là cuốn “Nghề báo nói” của Nguyễn Đình Lương, “Nghiệp vụ phóng viên, biên tập viên đài phát thanh” của Đoàn Quang Long ... Đây là những nghiên cứu đặt nền móng cơ bản cả về lý luận lẫn thực hành đối với những người nghiên cứu về báo chí cũng như đối với những người làm báo phát thanh. Tuy vậy, trong các cuốn sách này, các tác giả mới chỉ nghiên cứu tin phát thanh được viết theo kiểu truyền thống chưa đề cập đến tin hiện đại.
Cuốn “Báo Phát thanh” do Đài TNVN và Phân viện báo chí và tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền) phối hợp thực hiện dành hẳn chương 11 đề cập một số vấn đề của tin phát thanh về đặc điểm, các dạng tin phát thanh, kỹ năng làm tin phát thanh... Nội dung chương này cũng chỉ khảo sát tin phát thanh ở dạng khái lược, chưa đi sâu phân tích, tổng kết về tin phát thanh hiện đại và hầu như chưa đề cập đến tin phát thanh hiện đại trong tương quan với bản thân những người làm phát thanh và với công chúng nghe đài ở Việt Nam.
Cuốn "Kỹ thuật viết tin" của Trần Quang có đề cập về nguyên lý viết tin cho phát thanh nhưng cũng sơ lược, chưa đi sâu về đặc thù và xu hướng phát triển của tin phát thanh.
Gần đây đã có một số cuốn sách đã đề cập đến tin hiện đại như “Thể loại báo chí” của Khoa báo chí- Đại học KHXHNVQG, “Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển” của Vũ Quang Hào... Song trong các cuốn sách này, các
2
tác giả mới tập trung phân tích, chỉ ra những đặc điểm của tin hiện đại trên báo in chứ không đề cập đến tin hiện đại cho đài phát thanh. Tuy nhiên, đây là nền tảng lý luận cơ bản về tin hiện đại để mở rộng nghiên cứu vào lĩnh vực phát thanh.
Ở nước ngoài cũng có nhiều nghiên cứu về tin như: Reporting & Writing News của Len Granato, Nxb Prentice Hall of Austraylia Pty Ltd phát hành năm 1994 (bằng tiếng Anh); Reporting and Writing News- A basic handbook của Peter Eng và Jeff Hodson, The Indochina Media Memorial Foundation phát hành 2001 (bằng tiếng Anh)... Các cuốn sách này chủ yếu nêu những thao tác cụ thể để viết tin hiện đại cho báo in và hãng thông tấn mà không nêu thao tác cũng như kỹ năng viết tin phát thanh hiện đại.
Một số cuốn sách có đề cập đến tin phát thanh hiện đại như Broadcast News của E.Joseph Broussard và Jack F. Holgate do Macmillian Publishing Co.Inc, New York phát hành 1992 (bằng tiếng Anh), hay như "Sau đây là bản tin chi tiết" của Maray Masterton và Roger Patching do Nxb Thế giới phát hành năm 2001 (bằng tiếng Việt). Tuy nhiên, các cuốn sách này chỉ đề cập tin phát thanh hiện đại ở ngôn ngữ là tiếng Anh chưa thể ứng dụng vào tiếng Việt được.
Các khoá học về tin phát thanh hiện đại được tổ chức tại Đài TNVN do các chuyên gia của SIDA (Thuỵ Điển), BBC (Anh) và DW (CHLB Đức) triển khai trong những năm qua chủ yếu là thực hành chứ không chú ý đến lý luận nên mặc dù có hiệu quả trong công việc cụ thể, nhưng lại khó áp dụng trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Một số cuộc thảo luận, hội thảo, trao đổi nghiệp vụ tại Đài TNVN về cách viết tin hiện đại cũng chỉ có tính chất rút kinh nghiệm nội bộ cho những người đang trực tiếp tham gia viết tin, bài ở Đài.
Như vậy, có thể nói rằng, cho đến nay ở nước ta chưa có tổng kết lý luận gắn liền với thực tiễn về tin phát thanh hiện đại sử dụng ngôn ngữ tiếng
3
Việt, nhất là có so sánh với tin phát thanh truyền thống để từ đó đề ra những giải pháp, thao tác cụ thể giúp những người làm phát thanh không chỉ ở Đài TNVN mà còn các đài phát thanh trong cả nước dễ dàng chuyển từ lối viết tin truyền thống sang lối viết tin hiện đại.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn này trước hết là những lý luận về tin và tin phát thanh được trình bày trong các cuốn sách nghiên cứu lý luận, giáo trình đã được xuất bản ở nước ta. Luận văn này nghiên cứu văn bản tin phát thanh được lưu giữ tại Ban Thời sự- Đài TNVN. Trong luận văn này chúng tui tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của cách viết tin phát thanh truyền thống và cách viết tin phát thanh hiện đại đến cả những người làm phát thanh và công chúng nghe đài. Do đây là nghiên cứu chuyên sâu về tin phát thanh, đòi hỏi phải có kiến thức nhất định về báo chí nên trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tui lựa chọn đối tượng thính giả và người làm phát thanh là chính các phóng viên đang công tác tại Đài TNVN và sinh viên báo chí. Đây là những người thường xuyên nghe các bản tin và chương trình thời sự của Đài TNVN và họ có kiến thức nghiệp vụ nhất định để nhìn nhận những bước chuyển trong cách viết tin của các phóng viên Đài TNVN.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát lý luận và khảo sát thực tiễn, luận văn này trước hết nhằm đưa ra những giải pháp, những thao tác cụ thể có tính khả thi cao để giúp những người làm phát thanh dễ dàng chuyển từ lối viết tin truyền thống sang lối viết tin phát thanh hiện đại, từ đó góp phần nâng cao chất lượng các bản tin và chương trình thời sự của Đài TNVN.
Để thực hiện được mục tiêu này, nhiệm vụ đặt ra khi thực hiện luận văn là: khái quát được xu thế làm tin trên báo chí nói chung và trên đài phát thanh
4
nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hoá và cạnh tranh giữa các loại hình báo chí hiện nay; khảo sát tình hình viết tin ở Đài TNVN để tạo cơ sở thực tiễn cho những đánh giá, phân tích làm sáng tỏ thực trạng.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về lý luận, luận văn này góp phần củng cố, bổ sung những lý luận cơ bản về tin phát thanh sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt về mặt ngôn ngữ, cấu trúc và đặc biệt là về tin có tiếng động, có tiếng nói của nhân vật, việc đưa tin trực tiếp... Cũng trong luận văn này có khảo sát về thực trạng tin trên đài Đài TNVN trong mối tương quan với thính giả và người làm phát thanh. Những kết quả trong luận văn này là tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về tin phát thanh ở Việt Nam.
Về thực tiễn, qua luận văn này những người làm phát thanh ở Đài TNVN nói riêng và ngành phát thanh cả nước nói chung có thể tìm thấy những lý luận cơ bản về tin phát thanh hiện đại, những thao tác cụ thể để làm tin phát thanh hiện đại và biết được cách chuyển từ lối viết truyền thống sang lối viết hiện đại. Luận văn cũng khuyến nghị những giải pháp về mặt tổ chức và kỹ thuật giúp cho cấp quản lý ở Đài TNVN đề ra quyết định để thúc đẩy việc áp dụng và tiến tới thống nhất lối viết tin phát thanh hiện đại trong toàn cơ quan, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông của Đài TNVN trong bối cảnh bị các loại hình báo chí khác tranh giành thị phần công chúng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tui sử dụng một số phương pháp sau:
- Nghiên cứu, tham khảo các sách, các tài liệu, bài giảng, giáo trình, bài viết... trong và ngoài nước có liên quan đến tin và tin phát thanh.
5
- Khảo sát thực tế, thống kê tình hình sử dụng tin tức trên Đài TNVN; phát phiếu điều tra để có những cứ liệu chính xác, trung thực làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng.
- Trao đổi với các nhà báo có kinh nghiệm, các giảng viên báo chí chuyên về phát thanh và truyền hình, các kỹ thuật viên để khai thác thông tin và kinh nghiệm nghề nghiệp nhằm bổ sung cho các luận điểm khoa học.
- Phân tích, tổng hợp để rút ra kết luận.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương có cấu trúc như sau:
Chương 1: Xu thế phát triển của tin trên báo chí
Chương 2: Tƣơng đồng và dị biệt giữa tin phát thanh truyền
thống và tin phát thanh hiện đại trên Đài TNVN Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy tin phát thanh hiện đại
trên Đài TNVN
6
CHƢƠNG 1: XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA TIN TRÊN BÁO CHÍ
1.1 Thông tin đại chúng trong xu thế toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá là sự thâm nhập và giao thoa nhiều mặt chủ yếu của đời sống con người trên phạm vi toàn thế giới. Ngày nay, thật khó hình dung một nền kinh tế quốc gia lại có thể phát triển được nếu nó đứng ngoài nền kinh tế thế giới. Sự liên kết kinh tế mang tính hỗ trợ và ràng buộc lẫn nhau trên những khu vực rộng lớn của thế giới là xu thế không thể đảo ngược trong thời đại chúng ta.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, báo chí bị tác động mạnh mẽ của xu hướng thương mại hoá và chính hoạt động báo chí đang trở thành một ngành kinh tế phát triển, là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thế giới. Nguồn lợi nhuận lớn từ hoạt động báo chí đã biến lĩnh vực này thành một thị trường kinh doanh độc quyền. Ngày càng có nhiều công ty kinh doanh truyền thông xuyên quốc gia, có tầm ảnh hưởng tài chính và chính trị rất lớn. Tập đoàn báo chí lớn nhất thế giới hiện nay là Gannett, hiện sở hữu 22 đài truyền hình, 97 tờ báo với lượng phát hành 8 triệu bản . Nhà tài phiệt truyền thông Ôxtrâylia Rupert Murdoch là chủ của hàng chục tờ báo lớn trên thế giới. Ở Mỹ, 1.500 tờ báo với lượng phát hành 53 triệu bản mỗi kỳ và 9.200 tạp chí có lượng bản từ 20.000 đến 800.000 bản mỗi kỳ như tờ Cosmos đều tập trung vào các tập đoàn tài phiệt, chỉ còn trên 20% thuộc các chủ báo nhỏ . Từ lĩnh vực truyền thông, các tập đoàn tư bản báo chí thâm nhập vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá ở nhiều quốc gia, tham gia hoạch định các chính sách điều hành đất nước ở những quốc gia đó. [20]
Nhưng vai trò của báo chí trong chính trị, quân sự, kinh tế chưa phải là tất cả nếu không nói là còn có vị trí ít quan trọng hơn so với văn hoá. Báo chí ngày nay đã trở thành kênh giáo dục mang tính phổ cập ở hầu hết các quốc gia phát triển và đang phát triển. Tính đa năng của báo chí, nhất là các loại
7
hình báo chí sử dụng các phương tiện nghe-nhìn đã thể hiện sự ưu việt không phải bàn cãi trong việc nâng cao dân trí nhất là ở những nước nghèo, giáo dục chưa phát triển. Với các nước giàu, các hình thức phổ cập giáo dục từ xa đã giảm thiểu hàng nghìn tỷ đô la nhờ giảm bớt chi phí xây dựng trường lớp, giảng dạy, thực nghiệm...tập trung. Báo chí còn tạo lập môi trường văn hoá và trở thành các địa chỉ sáng tạo văn hoá thoả mãn nhu cầu giải trí của người dân. Nhiều sinh hoạt văn hoá, giải thưởng âm nhạc, văn học, điện ảnh, thể thao có uy tín trên thế giới là do các cơ quan báo chí đứng ra tài trợ và tổ chức.
Quá trình toàn cầu hoá kinh tế và cùng với nó là toàn cầu hoá báo chí trong một không gian thông tin mở là một bước phát triển của văn minh nhân loại, là thành tựu chung của loài người. Tuy nhiên, không vì điều đó mà báo chí trong toàn cầu hoá mất đi bản chất chính trị của nó là vũ khí trong cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, các dân tộc, các khu vực trên thế giới nhằm bảo vệ quyền lợi của mình. Chưa bao giờ chiến tranh thông tin lại diễn ra gay gắt, quyết liêt trên một phạm vi rộng lớn như ngày nay. Điều này chỉ có thể giải thích được bằng nguyên nhân sâu xa của nó, đó là quá trình sắp xếp lại trật tự thế giới mới sau thời kỳ chiến tranh lạnh. Báo chí cũng đang là mối đe doạ đối với nền văn hoá của nhiều nước và nhiều dân tộc khi dường như không có cách gì ngăn chặn được sự thâm nhập của mặt tiêu cực ngoại lai trong lối sống, đạo đức, thị hiếu của người dân cũng như sự suy thoái văn hoá bản địa trong một xã hội tiêu dùng nếu không có chiến lược thông tin trên phạm vi quốc gia và sự hợp tác toàn cầu.
1.2 Báo chí Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá
Ở Việt Nam, sau hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế, báo chí đã có bước phát triển mạnh mẽ chưa từng có. Từ chỗ chỉ có 2 tờ báo in hàng ngày và hơn mười tờ báo hàng tuần, một đài phát thanh và một đài truyền
8
hình quốc gia với diện phủ sóng rất hạn chế, ngày nay cả nước đã có 517 cơ quan báo cung cấp cho bạn đọc gần 700 ấn phẩm với khoảng 550 triệu bản báo mỗi năm; 64 đài phát thanh và truyền hình cấp tỉnh và thành phố, trên 500 đài phát thanh cấp huyện, hàng ngàn đài truyền thanh phường xã. Sóng phát thanh hiện đã tới 5 châu lục và 90% lãnh thổ nước ta, sóng truyền hình đã phủ phần lớn diện tích Châu Âu, Bắc Mỹ và 85% diện tích cả nước. Tuy mới bước đầu phát triển, nước ta hiện đã có 50 tờ báo điện tử, 2.500 trang tin điện tử (Website) được cấp phép hoạt động. Đi đôi với sự phát triển về số lượng, trình độ kỹ thuật của báo chí cũng được nâng lên không ngừng, nhiều lĩnh vực như phát thanh, truyền hình, thông tin trên mạng tin học, in ấn đã đạt trình độ trung bình tiên tiến của thế giới. [22]
Sự phát triển của báo chí Việt Nam cũng không tách rời xu thế toàn cầu hoá văn hoá. Khi văn hoá nói chung trong đó có báo chí đã trở thành cầu nối chính trị, kinh tế thì phát triển báo chí là một đòi hỏi tất yếu của phát triển. Sự tiến bộ và đổi mới của công nghệ thông tin bắt buộc mọi quốc gia phải chi những khoản tiền lớn để đầu tư phương tiện kỹ thuật mới cho báo chí nếu không muốn bị tụt hậu, cô lập. Đời sống vật chất và trình độ dân trí tăng lên dẫn đến nhu cầu thông tin- một trong những quyền sống cơ bản của con người hiện đại – cũng tăng lên không ngừng. Nghiệp vụ báo chí trên thế giới ngày nay đã đạt đến trình độ rất cao, trở thành yếu tố kích thích những người làm báo. Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng là báo chí đã trở thành một nghề nghiệp hấp dẫn, hoạt động báo chí đã trở thành một trong những ngành kinh tế có lợi nhuận cao.
Hội nhập quốc tế, tham gia vào quá trình toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Quan điểm xuyên suốt của Đảng đối với báo chí trong quá trình hội nhập là kiên quyết giữ vững định hướng chính trị, cổ vũ mạnh mẽ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước và định hướng xã hội chủ nghĩa đồng thời thoả mãn ngày
9
càng cao nhu cầu thông tin, nhu cầu dân chủ hoá đời sống tinh thần của nhân dân. Thực hiện nhiệm vụ đó, báo chí cần nâng cao chất lượng, kiên quyết khắc phục xu hướng thương mại hoá, xa rời tôn chỉ mục đích đồng thời không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật, trình độ chuyên môn theo hướng hiện đại hoá, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế nâng cao khả năng hội nhập với báo chí thế giới. Phát triển trong môi trường được quản lý tốt, quản lý tốt để tiếp tục phát triển hơn nữa là con đường đồng hành cùng dân tộc và đất nước của báo chí nước ta.
1.3 Sự tiếp nhận thông tin của công chúng
Đối với công chúng, tác phẩm báo chí mới chỉ thể hiện qua chất lượng
của thông tin tiềm năng. Bởi vì những thông tin đó chưa chắc đã được công chúng tiếp nhận. Trong những trường hợp như vậy, mối quan hệ nhà báo- tác phẩm- công chúng bị phá vỡ. Điều đó dẫn đến tình trạng là không có khả năng chuyển thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực, Thông tin hiện thực là những thông tin được nhà báo sáng tạo và được công chúng tiếp nhận qua các phương tiện thông tin đại chúng. Khi tìm hiểu hiệu quả thông tin nơi người nhận, chúng ta thấy là không phải các bản tin hay các chương trình phát thanh, truyền hình đều được họ thừa nhận. Một cuộc điều tra xã hội học ở Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: nhiều người không đọc báo vì họ không hiểu được nội dung của bài báo [15,207] Điều này nhắc nhở các nhà báo phải quan tâm đến hiệu quả của các bài báo, bản tin và chương trình phát thanh, truyền hình. Việc đảm bảo sự ổn định trong mối quan hệ lẫn nhau giữa nhà báo và công chúng được thể hiện qua các tác phẩm và chương trình là rất cần thiết, đảm bảo cho thông tin tiềm năng trở thành thông tin hiện thực.
Muốn cho thông tin trong tác phẩm báo chí có giá trị thực tiễn, ảnh hưởng tích cực đến công chúng, cần đảm bảo những điều kiện sau:
10
Một là: tính độc đáo của thông tin. Sự biểu hiện của tính độc đáo rất đơn giản. Đó là cái mới của thông tin. Cái mới là cái mà công chúng chưa biết. Nhưng cái mới không phải là yếu tố duy nhất thể hiện tính độc đáo. Cùng với sự đòi hỏi tất yếu của cái mới, có thể tái hiện thông tin cũ bị lãng quên, giúp cho công chúng có thêm tư liệu để nhận thức tốt hơn sự kiện mới.
Hai là: tính đại chúng (dễ hiểu): để công chúng nhận thức nội dung tác phẩm tương ứng với ý đồ của tác giả, đòi hỏi ngôn ngữ của báo chí (cách thể hiện, cách viết, nhịp điệu...) phải được công chúng nhận thức đầy đủ.
Ba là: tính hợp thời (đúng lúc). Những tác phẩm báo chí xuất hiện đúng lúc, đáp ứng được nhu cầu của công chúng và sự quan tâm của họ trong thời điểm đó thì tác phẩm sẽ có giá trị hơn. Sự hấp dẫn của bài báo sẽ tạo hứng thú cho người đọc, làm cho họ chú ý đến thông tin nhiều hơn, gây xúc cảm và khơi dậy niềm mong muốn tìm đến nguồn gốc của nó.
Một loạt yêu cầu để đảm bảo ý nghĩa thực tiễn của tác phẩm mà chúng ta vừa tìm hiểu trên đây là những nhân tố tạo nên hiệu quả. Yếu tố ngữ nghĩa và cấu trúc tác phẩm (hệ thống tác phẩm) là điều kiện cần thiết và là nhân tố tác động đến hiệu quả. Nó đảm bảo giá trị th
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:
Nhà xuất bản: ĐHKHXH & NV
Ngày: 2006
Chủ đề: Báo chí
Tin phát thanh
Tin tức
Đài tiếng nói Việt Nam
Miêu tả: 98 tr. + Tóm tắt + CD-ROM
Khái quát xu thế làm tin trên báo chí nói chung và trên đài phát thanh nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hoá và cạnh tranh giữa các loại hình báo chí hiện nay. Đồng thời khảo sát tình hình viết tin ở Đài tiếng nói Việt Nam để tạo cơ sở thực tiễn cho những đánh giá, phân tích làm sáng tỏ thực trạng nhằm đưa ra những giải pháp, những thao tác cụ thể có tính khả thi cao để giúp cho những người làm phát thanh dễ dàng chuyển từ lối viết tin truyền thống sang lối viết tin phát thanh hiện đại. Góp phần nâng cao chất lượng các bản tin và chương trình thời sự của Đài tiếng nói Việt Nam
MỤC LỤC
Mở đầu 1 Chương 1: Xu thế phát triển của tin trên báo chí 7 1.1 Thông tin đại chúng trong xu thế toàn cầu hoá 7 1.2 Báo chí Việt nam trong xu thế toàn cầu hoá 8
1.3 Sự tiếp nhận thông tin của công chúng 10 1.4 Cạnh tranh của các phương tiện truyền thông 11 1.5 Xu thế làm tin 13
1.5.1 Xu thế làm tin của báo chí 14 1.5.1.1 Ngắn gọn 14 1.5.1.2 Cấu trúc hiện đại 16 1.5.1.3 Giảm tính lễ tân 18 1.5.1.4 Phản hồi của công chúng (feedback) 20
1.5.2 Xu thế làm tin của phát thanh 24 1.5.2.1 Tin có tiếng động, có phát biểu của nhân chứng 25 1.5.2.2 Đưa tin trực tiếp 29 1.5.2.3 Tăng tính bình luận, phân tích 32
Tiểu kết 34 Chương 2: Tương đồng và dị biệt giữa tin phát thanh truyền 36
thống và tin phát thanh hiện đại trên Đài TNVN
2.1 Đặc điểm của tin phát thanh truyền thống 36 2.2 Đặc điểm của tin phát thanh hiện đại 39 2.3 Tình hình sử dụng tin trên Hệ Thời sự chính trị tổng hợp 44 2.4 Tin phát thanh truyền thống và tin phát thanh hiện đại trong
tương quan với thính giả và người làm phát thanh 46 2.4.1 Với thính giả 46 2.4.2 Với người làm phát thanh 48
2.5 Một số vấn đề rút ra qua khảo sát 51 2.5.1 Tỷ lệ tin phát thanh hiện đại ở Đài TNVN còn thấp 51 2.5.2 Hạn chế về ngôn ngữ 53 2.5.3 Phóng viên chưa chú trọng viết tin hấp dẫn từ đầu 57 2.5.4 Hạn chế về làm tin có tiếng động 61
2.5.4.1 Kết cấu của tin có tiếng động đơn điệu 61
2.5.4.2 Chất lượng âm thanh của tiếng động chưa cao 65 Tiểu kết 68
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy tin phát thanh hiện đại
trên Đài Tiếng nói Việt Nam 69 3.1 Nhóm giải pháp nghiệp vụ 69 3.1.1 Kỹ năng viết câu mở đầu của tin 69 3.1.2 Viết lời dẫn cho tin 72
3.1.3 Kỹ năng biên tập cấu trúc câu để chuyển từ tin phát
thanh truyền thống sang tin phát thanh hiện đại 75 3.1.4 Nâng cao chất lượng tin có tiếng động 80 3.1.5 Tăng cường đưa tin trực tiếp 84 3.2 Nhóm giải pháp tổ chức, kỹ thuật 87 3.2.1 Mở các khoá đào tạo về viết tin hiện đại 87 3.2.2 Nâng cấp hoạt động của Trung tâm tin 88 3.2.3 Cải tiến việc lập kế hoạch đưa tin 92 3.2.4 Ứng dụng công nghệ số trong việc làm tin và đưa tin 94 Kết luận 96
Tài liệu tham khảo Phụ lục
1. Tính cấp thiết của đề tài
MỞ ĐẦU
Được thành lập ngày 7/9/1945, Đài Tiếng nói Việt Nam (từ đây viết tắt là Đài TNVN) là một trong những cơ quan báo chí ra đời sớm nhất ở nước ta. Với lợi thế về khả năng phủ sóng rộng, thông tin nhanh, đa dạng nên Đài TNVN đã thu hút được một số lượng công chúng lớn cả ở trong nước và nước ngoài. Chủ quan mà nói rằng, trước giai đoạn đổi mới, Đài TNVN chiếm vị trí độc tôn trong làng báo chí Việt Nam về đưa tin và chiếm lĩnh công chúng. Tuy nhiên, kể từ năm 1990 trở lại đây, Đài TNVN đứng trước một cạnh tranh khốc liệt về đưa tin và chiếm lĩnh công chúng do sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng khác như truyền hình, báo in, báo điện tử. Nếu không đổi mới cách viết tin và đưa tin thì chắc chắn Đài TNVN sẽ chịu thua thiệt trong cuộc cạnh tranh này. Song cũng phải thấy rằng, tiến trình đổi mới cách viết tin và đưa tin của Đài TNVN gặp nhiều mâu thuẫn cần giải quyết.
- Thứ nhất, lối viết tin truyền thống đã ăn sâu vào tư duy của nhiều phóng viên, biên tập viên của Đài TNVN. Thay đổi cách viết tin từ kiểu truyền thống sang cách viết tin hiện đại là việc không dễ dàng. Vì vậy cần nghiên cứu tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa tin phát thanh truyền thống và tin phát thanh hiện đại, những nguyên nhân dẫn đến việc các phóng viên, biên tập viên của Đài TNVN khó áp dụng cách viết tin hiện đại để từ đó có biện pháp khắc phục.
- Thứ hai, về phía công chúng báo chí tâm lý tiếp nhận thông tin và lứa tuổi đã có sự biến đổi. Thế hệ công chúng gắn bó với Đài TNVN từ cách đây hàng chục năm, quen nghe cách viết tin kiểu truyền thống xu hướng sẽ giảm đi. Thế hệ trẻ càng đông, có điều kiện tiếp xúc nhiều với tin tức được viết theo kiểu hiện đại trên các báo in, báo điện tử, truyền hình. Do vậy, cần
1
nghiên cứu về sự tác động của tin phát thanh truyền thống và tin phát thanh hiện đại đối với công chúng để giúp cho những người làm phát thanh định hướng được cách thức tiến hành đổi mới cách viết tin
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có nhiều nghiên cứu về tin phát thanh dưới các góc độ khác nhau như về ngôn ngữ, thể loại... Một số sách xuất bản ở trong nước đã đề cập đến tin phát thanh, có thể kể ra là cuốn “Nghề báo nói” của Nguyễn Đình Lương, “Nghiệp vụ phóng viên, biên tập viên đài phát thanh” của Đoàn Quang Long ... Đây là những nghiên cứu đặt nền móng cơ bản cả về lý luận lẫn thực hành đối với những người nghiên cứu về báo chí cũng như đối với những người làm báo phát thanh. Tuy vậy, trong các cuốn sách này, các tác giả mới chỉ nghiên cứu tin phát thanh được viết theo kiểu truyền thống chưa đề cập đến tin hiện đại.
Cuốn “Báo Phát thanh” do Đài TNVN và Phân viện báo chí và tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền) phối hợp thực hiện dành hẳn chương 11 đề cập một số vấn đề của tin phát thanh về đặc điểm, các dạng tin phát thanh, kỹ năng làm tin phát thanh... Nội dung chương này cũng chỉ khảo sát tin phát thanh ở dạng khái lược, chưa đi sâu phân tích, tổng kết về tin phát thanh hiện đại và hầu như chưa đề cập đến tin phát thanh hiện đại trong tương quan với bản thân những người làm phát thanh và với công chúng nghe đài ở Việt Nam.
Cuốn "Kỹ thuật viết tin" của Trần Quang có đề cập về nguyên lý viết tin cho phát thanh nhưng cũng sơ lược, chưa đi sâu về đặc thù và xu hướng phát triển của tin phát thanh.
Gần đây đã có một số cuốn sách đã đề cập đến tin hiện đại như “Thể loại báo chí” của Khoa báo chí- Đại học KHXHNVQG, “Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển” của Vũ Quang Hào... Song trong các cuốn sách này, các
2
tác giả mới tập trung phân tích, chỉ ra những đặc điểm của tin hiện đại trên báo in chứ không đề cập đến tin hiện đại cho đài phát thanh. Tuy nhiên, đây là nền tảng lý luận cơ bản về tin hiện đại để mở rộng nghiên cứu vào lĩnh vực phát thanh.
Ở nước ngoài cũng có nhiều nghiên cứu về tin như: Reporting & Writing News của Len Granato, Nxb Prentice Hall of Austraylia Pty Ltd phát hành năm 1994 (bằng tiếng Anh); Reporting and Writing News- A basic handbook của Peter Eng và Jeff Hodson, The Indochina Media Memorial Foundation phát hành 2001 (bằng tiếng Anh)... Các cuốn sách này chủ yếu nêu những thao tác cụ thể để viết tin hiện đại cho báo in và hãng thông tấn mà không nêu thao tác cũng như kỹ năng viết tin phát thanh hiện đại.
Một số cuốn sách có đề cập đến tin phát thanh hiện đại như Broadcast News của E.Joseph Broussard và Jack F. Holgate do Macmillian Publishing Co.Inc, New York phát hành 1992 (bằng tiếng Anh), hay như "Sau đây là bản tin chi tiết" của Maray Masterton và Roger Patching do Nxb Thế giới phát hành năm 2001 (bằng tiếng Việt). Tuy nhiên, các cuốn sách này chỉ đề cập tin phát thanh hiện đại ở ngôn ngữ là tiếng Anh chưa thể ứng dụng vào tiếng Việt được.
Các khoá học về tin phát thanh hiện đại được tổ chức tại Đài TNVN do các chuyên gia của SIDA (Thuỵ Điển), BBC (Anh) và DW (CHLB Đức) triển khai trong những năm qua chủ yếu là thực hành chứ không chú ý đến lý luận nên mặc dù có hiệu quả trong công việc cụ thể, nhưng lại khó áp dụng trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Một số cuộc thảo luận, hội thảo, trao đổi nghiệp vụ tại Đài TNVN về cách viết tin hiện đại cũng chỉ có tính chất rút kinh nghiệm nội bộ cho những người đang trực tiếp tham gia viết tin, bài ở Đài.
Như vậy, có thể nói rằng, cho đến nay ở nước ta chưa có tổng kết lý luận gắn liền với thực tiễn về tin phát thanh hiện đại sử dụng ngôn ngữ tiếng
3
Việt, nhất là có so sánh với tin phát thanh truyền thống để từ đó đề ra những giải pháp, thao tác cụ thể giúp những người làm phát thanh không chỉ ở Đài TNVN mà còn các đài phát thanh trong cả nước dễ dàng chuyển từ lối viết tin truyền thống sang lối viết tin hiện đại.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn này trước hết là những lý luận về tin và tin phát thanh được trình bày trong các cuốn sách nghiên cứu lý luận, giáo trình đã được xuất bản ở nước ta. Luận văn này nghiên cứu văn bản tin phát thanh được lưu giữ tại Ban Thời sự- Đài TNVN. Trong luận văn này chúng tui tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của cách viết tin phát thanh truyền thống và cách viết tin phát thanh hiện đại đến cả những người làm phát thanh và công chúng nghe đài. Do đây là nghiên cứu chuyên sâu về tin phát thanh, đòi hỏi phải có kiến thức nhất định về báo chí nên trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tui lựa chọn đối tượng thính giả và người làm phát thanh là chính các phóng viên đang công tác tại Đài TNVN và sinh viên báo chí. Đây là những người thường xuyên nghe các bản tin và chương trình thời sự của Đài TNVN và họ có kiến thức nghiệp vụ nhất định để nhìn nhận những bước chuyển trong cách viết tin của các phóng viên Đài TNVN.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát lý luận và khảo sát thực tiễn, luận văn này trước hết nhằm đưa ra những giải pháp, những thao tác cụ thể có tính khả thi cao để giúp những người làm phát thanh dễ dàng chuyển từ lối viết tin truyền thống sang lối viết tin phát thanh hiện đại, từ đó góp phần nâng cao chất lượng các bản tin và chương trình thời sự của Đài TNVN.
Để thực hiện được mục tiêu này, nhiệm vụ đặt ra khi thực hiện luận văn là: khái quát được xu thế làm tin trên báo chí nói chung và trên đài phát thanh
4
nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hoá và cạnh tranh giữa các loại hình báo chí hiện nay; khảo sát tình hình viết tin ở Đài TNVN để tạo cơ sở thực tiễn cho những đánh giá, phân tích làm sáng tỏ thực trạng.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về lý luận, luận văn này góp phần củng cố, bổ sung những lý luận cơ bản về tin phát thanh sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt về mặt ngôn ngữ, cấu trúc và đặc biệt là về tin có tiếng động, có tiếng nói của nhân vật, việc đưa tin trực tiếp... Cũng trong luận văn này có khảo sát về thực trạng tin trên đài Đài TNVN trong mối tương quan với thính giả và người làm phát thanh. Những kết quả trong luận văn này là tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về tin phát thanh ở Việt Nam.
Về thực tiễn, qua luận văn này những người làm phát thanh ở Đài TNVN nói riêng và ngành phát thanh cả nước nói chung có thể tìm thấy những lý luận cơ bản về tin phát thanh hiện đại, những thao tác cụ thể để làm tin phát thanh hiện đại và biết được cách chuyển từ lối viết truyền thống sang lối viết hiện đại. Luận văn cũng khuyến nghị những giải pháp về mặt tổ chức và kỹ thuật giúp cho cấp quản lý ở Đài TNVN đề ra quyết định để thúc đẩy việc áp dụng và tiến tới thống nhất lối viết tin phát thanh hiện đại trong toàn cơ quan, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông của Đài TNVN trong bối cảnh bị các loại hình báo chí khác tranh giành thị phần công chúng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tui sử dụng một số phương pháp sau:
- Nghiên cứu, tham khảo các sách, các tài liệu, bài giảng, giáo trình, bài viết... trong và ngoài nước có liên quan đến tin và tin phát thanh.
5
- Khảo sát thực tế, thống kê tình hình sử dụng tin tức trên Đài TNVN; phát phiếu điều tra để có những cứ liệu chính xác, trung thực làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng.
- Trao đổi với các nhà báo có kinh nghiệm, các giảng viên báo chí chuyên về phát thanh và truyền hình, các kỹ thuật viên để khai thác thông tin và kinh nghiệm nghề nghiệp nhằm bổ sung cho các luận điểm khoa học.
- Phân tích, tổng hợp để rút ra kết luận.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương có cấu trúc như sau:
Chương 1: Xu thế phát triển của tin trên báo chí
Chương 2: Tƣơng đồng và dị biệt giữa tin phát thanh truyền
thống và tin phát thanh hiện đại trên Đài TNVN Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy tin phát thanh hiện đại
trên Đài TNVN
6
CHƢƠNG 1: XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA TIN TRÊN BÁO CHÍ
1.1 Thông tin đại chúng trong xu thế toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá là sự thâm nhập và giao thoa nhiều mặt chủ yếu của đời sống con người trên phạm vi toàn thế giới. Ngày nay, thật khó hình dung một nền kinh tế quốc gia lại có thể phát triển được nếu nó đứng ngoài nền kinh tế thế giới. Sự liên kết kinh tế mang tính hỗ trợ và ràng buộc lẫn nhau trên những khu vực rộng lớn của thế giới là xu thế không thể đảo ngược trong thời đại chúng ta.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, báo chí bị tác động mạnh mẽ của xu hướng thương mại hoá và chính hoạt động báo chí đang trở thành một ngành kinh tế phát triển, là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thế giới. Nguồn lợi nhuận lớn từ hoạt động báo chí đã biến lĩnh vực này thành một thị trường kinh doanh độc quyền. Ngày càng có nhiều công ty kinh doanh truyền thông xuyên quốc gia, có tầm ảnh hưởng tài chính và chính trị rất lớn. Tập đoàn báo chí lớn nhất thế giới hiện nay là Gannett, hiện sở hữu 22 đài truyền hình, 97 tờ báo với lượng phát hành 8 triệu bản . Nhà tài phiệt truyền thông Ôxtrâylia Rupert Murdoch là chủ của hàng chục tờ báo lớn trên thế giới. Ở Mỹ, 1.500 tờ báo với lượng phát hành 53 triệu bản mỗi kỳ và 9.200 tạp chí có lượng bản từ 20.000 đến 800.000 bản mỗi kỳ như tờ Cosmos đều tập trung vào các tập đoàn tài phiệt, chỉ còn trên 20% thuộc các chủ báo nhỏ . Từ lĩnh vực truyền thông, các tập đoàn tư bản báo chí thâm nhập vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá ở nhiều quốc gia, tham gia hoạch định các chính sách điều hành đất nước ở những quốc gia đó. [20]
Nhưng vai trò của báo chí trong chính trị, quân sự, kinh tế chưa phải là tất cả nếu không nói là còn có vị trí ít quan trọng hơn so với văn hoá. Báo chí ngày nay đã trở thành kênh giáo dục mang tính phổ cập ở hầu hết các quốc gia phát triển và đang phát triển. Tính đa năng của báo chí, nhất là các loại
7
hình báo chí sử dụng các phương tiện nghe-nhìn đã thể hiện sự ưu việt không phải bàn cãi trong việc nâng cao dân trí nhất là ở những nước nghèo, giáo dục chưa phát triển. Với các nước giàu, các hình thức phổ cập giáo dục từ xa đã giảm thiểu hàng nghìn tỷ đô la nhờ giảm bớt chi phí xây dựng trường lớp, giảng dạy, thực nghiệm...tập trung. Báo chí còn tạo lập môi trường văn hoá và trở thành các địa chỉ sáng tạo văn hoá thoả mãn nhu cầu giải trí của người dân. Nhiều sinh hoạt văn hoá, giải thưởng âm nhạc, văn học, điện ảnh, thể thao có uy tín trên thế giới là do các cơ quan báo chí đứng ra tài trợ và tổ chức.
Quá trình toàn cầu hoá kinh tế và cùng với nó là toàn cầu hoá báo chí trong một không gian thông tin mở là một bước phát triển của văn minh nhân loại, là thành tựu chung của loài người. Tuy nhiên, không vì điều đó mà báo chí trong toàn cầu hoá mất đi bản chất chính trị của nó là vũ khí trong cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, các dân tộc, các khu vực trên thế giới nhằm bảo vệ quyền lợi của mình. Chưa bao giờ chiến tranh thông tin lại diễn ra gay gắt, quyết liêt trên một phạm vi rộng lớn như ngày nay. Điều này chỉ có thể giải thích được bằng nguyên nhân sâu xa của nó, đó là quá trình sắp xếp lại trật tự thế giới mới sau thời kỳ chiến tranh lạnh. Báo chí cũng đang là mối đe doạ đối với nền văn hoá của nhiều nước và nhiều dân tộc khi dường như không có cách gì ngăn chặn được sự thâm nhập của mặt tiêu cực ngoại lai trong lối sống, đạo đức, thị hiếu của người dân cũng như sự suy thoái văn hoá bản địa trong một xã hội tiêu dùng nếu không có chiến lược thông tin trên phạm vi quốc gia và sự hợp tác toàn cầu.
1.2 Báo chí Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá
Ở Việt Nam, sau hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế, báo chí đã có bước phát triển mạnh mẽ chưa từng có. Từ chỗ chỉ có 2 tờ báo in hàng ngày và hơn mười tờ báo hàng tuần, một đài phát thanh và một đài truyền
8
hình quốc gia với diện phủ sóng rất hạn chế, ngày nay cả nước đã có 517 cơ quan báo cung cấp cho bạn đọc gần 700 ấn phẩm với khoảng 550 triệu bản báo mỗi năm; 64 đài phát thanh và truyền hình cấp tỉnh và thành phố, trên 500 đài phát thanh cấp huyện, hàng ngàn đài truyền thanh phường xã. Sóng phát thanh hiện đã tới 5 châu lục và 90% lãnh thổ nước ta, sóng truyền hình đã phủ phần lớn diện tích Châu Âu, Bắc Mỹ và 85% diện tích cả nước. Tuy mới bước đầu phát triển, nước ta hiện đã có 50 tờ báo điện tử, 2.500 trang tin điện tử (Website) được cấp phép hoạt động. Đi đôi với sự phát triển về số lượng, trình độ kỹ thuật của báo chí cũng được nâng lên không ngừng, nhiều lĩnh vực như phát thanh, truyền hình, thông tin trên mạng tin học, in ấn đã đạt trình độ trung bình tiên tiến của thế giới. [22]
Sự phát triển của báo chí Việt Nam cũng không tách rời xu thế toàn cầu hoá văn hoá. Khi văn hoá nói chung trong đó có báo chí đã trở thành cầu nối chính trị, kinh tế thì phát triển báo chí là một đòi hỏi tất yếu của phát triển. Sự tiến bộ và đổi mới của công nghệ thông tin bắt buộc mọi quốc gia phải chi những khoản tiền lớn để đầu tư phương tiện kỹ thuật mới cho báo chí nếu không muốn bị tụt hậu, cô lập. Đời sống vật chất và trình độ dân trí tăng lên dẫn đến nhu cầu thông tin- một trong những quyền sống cơ bản của con người hiện đại – cũng tăng lên không ngừng. Nghiệp vụ báo chí trên thế giới ngày nay đã đạt đến trình độ rất cao, trở thành yếu tố kích thích những người làm báo. Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng là báo chí đã trở thành một nghề nghiệp hấp dẫn, hoạt động báo chí đã trở thành một trong những ngành kinh tế có lợi nhuận cao.
Hội nhập quốc tế, tham gia vào quá trình toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Quan điểm xuyên suốt của Đảng đối với báo chí trong quá trình hội nhập là kiên quyết giữ vững định hướng chính trị, cổ vũ mạnh mẽ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước và định hướng xã hội chủ nghĩa đồng thời thoả mãn ngày
9
càng cao nhu cầu thông tin, nhu cầu dân chủ hoá đời sống tinh thần của nhân dân. Thực hiện nhiệm vụ đó, báo chí cần nâng cao chất lượng, kiên quyết khắc phục xu hướng thương mại hoá, xa rời tôn chỉ mục đích đồng thời không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật, trình độ chuyên môn theo hướng hiện đại hoá, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế nâng cao khả năng hội nhập với báo chí thế giới. Phát triển trong môi trường được quản lý tốt, quản lý tốt để tiếp tục phát triển hơn nữa là con đường đồng hành cùng dân tộc và đất nước của báo chí nước ta.
1.3 Sự tiếp nhận thông tin của công chúng
Đối với công chúng, tác phẩm báo chí mới chỉ thể hiện qua chất lượng
của thông tin tiềm năng. Bởi vì những thông tin đó chưa chắc đã được công chúng tiếp nhận. Trong những trường hợp như vậy, mối quan hệ nhà báo- tác phẩm- công chúng bị phá vỡ. Điều đó dẫn đến tình trạng là không có khả năng chuyển thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực, Thông tin hiện thực là những thông tin được nhà báo sáng tạo và được công chúng tiếp nhận qua các phương tiện thông tin đại chúng. Khi tìm hiểu hiệu quả thông tin nơi người nhận, chúng ta thấy là không phải các bản tin hay các chương trình phát thanh, truyền hình đều được họ thừa nhận. Một cuộc điều tra xã hội học ở Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: nhiều người không đọc báo vì họ không hiểu được nội dung của bài báo [15,207] Điều này nhắc nhở các nhà báo phải quan tâm đến hiệu quả của các bài báo, bản tin và chương trình phát thanh, truyền hình. Việc đảm bảo sự ổn định trong mối quan hệ lẫn nhau giữa nhà báo và công chúng được thể hiện qua các tác phẩm và chương trình là rất cần thiết, đảm bảo cho thông tin tiềm năng trở thành thông tin hiện thực.
Muốn cho thông tin trong tác phẩm báo chí có giá trị thực tiễn, ảnh hưởng tích cực đến công chúng, cần đảm bảo những điều kiện sau:
10
Một là: tính độc đáo của thông tin. Sự biểu hiện của tính độc đáo rất đơn giản. Đó là cái mới của thông tin. Cái mới là cái mà công chúng chưa biết. Nhưng cái mới không phải là yếu tố duy nhất thể hiện tính độc đáo. Cùng với sự đòi hỏi tất yếu của cái mới, có thể tái hiện thông tin cũ bị lãng quên, giúp cho công chúng có thêm tư liệu để nhận thức tốt hơn sự kiện mới.
Hai là: tính đại chúng (dễ hiểu): để công chúng nhận thức nội dung tác phẩm tương ứng với ý đồ của tác giả, đòi hỏi ngôn ngữ của báo chí (cách thể hiện, cách viết, nhịp điệu...) phải được công chúng nhận thức đầy đủ.
Ba là: tính hợp thời (đúng lúc). Những tác phẩm báo chí xuất hiện đúng lúc, đáp ứng được nhu cầu của công chúng và sự quan tâm của họ trong thời điểm đó thì tác phẩm sẽ có giá trị hơn. Sự hấp dẫn của bài báo sẽ tạo hứng thú cho người đọc, làm cho họ chú ý đến thông tin nhiều hơn, gây xúc cảm và khơi dậy niềm mong muốn tìm đến nguồn gốc của nó.
Một loạt yêu cầu để đảm bảo ý nghĩa thực tiễn của tác phẩm mà chúng ta vừa tìm hiểu trên đây là những nhân tố tạo nên hiệu quả. Yếu tố ngữ nghĩa và cấu trúc tác phẩm (hệ thống tác phẩm) là điều kiện cần thiết và là nhân tố tác động đến hiệu quả. Nó đảm bảo giá trị th
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:
You must be registered for see links
Last edited by a moderator: