dunghoivisao
New Member
Link tải miễn phí luận văn
KINH TẾ VĨ MÔ CƠ BẢN1
Tổng quan
Kinh tế học: nghiên cứu cách thức các nguồn lực khan hiếm được phân bổ cho các nhu cầu
sử dụng mang tính cạnh tranh.
Các câu hỏi chủ yếu của kinh tế học:
Sản xuất cái gì?
Sản xuất như thế nào?
Sản xuất cho ai?
Giới hạn khả năng sản xuất:
Các kết hợp hàng hóa và dịch vụ cuối cùng có thể được sản xuất ra trong một giai đoạn cho
trước ứng với trình độ công nghệ và các nguồn lực sẵn có và có giới hạn.
Chi phí cơ hội – để có được hay sản xuất được thêm một hàng hóa thì phải giảm sản
xuất một hay một số hàng hóa khác (cơ hội bị mất).
Định luật về chi phí cơ hội tăng lên – để có thêm một hàng hóa phải hy sinh hay giảm
bớt một số lượng ngày càng nhiều hơn hàng hóa khác trong kết hợp chọn lọc.
Bên trong của đường giới hạn – thể hiện các nguồn lực chưa được sử dụng hết hay
tình trạng không hiệu quả.
Mở rộng hay sự nở ra bên ngoài của đường giới hạn – thể hiện sự gia tăng của các
nguồn lực và công nghệ tiên tiến.
Cách thức các lựa chọn được thực hiện:
Cơ chế thị trường – giá được xác định thông qua thị trường, giá ra tín hiệu hiện tượng
thặng dư hay thiếu hụt. Dựa vào đó, các chủ thể kinh doanh phân bổ nguồn lực nhằm
tận dụng lợi thế để tạo ra các nguồn lợi cao nhất.
Kinh tế mệnh lệnh – cơ quan trung ương phân bổ nguồn lực để đạt được các mục tiêu.
Kinh tế hỗn hợp – một nền kinh tế kết hợp cả dấu hiệu thị trường và phi thị trường để
phân bổ hàng hóa và nguồn lực.
Kinh tế học vĩ mô: nghiên cứu các hoạt động hay các biến tổng gộp của nền kinh tế như sản
phẩm quốc dân, mức nhân dụng hay mức giá.
Kinh tế học vi mô: nghiên cứu hành vi cá nhân của nhà sản xuất và người tiêu dùng vận hành
và hoạt động trong các thị trường riêng lẻ của nền kinh tế.
Cung – Cầu
Cầu:
Đường cầu (biểu cầu): là một đường (bảng) biểu diễn số lượng một loại hàng hóa mà một
người tiêu dùng sẵn lòng hay có thể mua ứng với những mức giá khác nhau với giả định về
sở thích, thị hiếu, thu nhập, giá hàng hóa liên quan, và số lượng người mua cho trước.
Luật cầu: tăng giá (P) làm giảm số lượng cầu (Q).
Thay đổi cầu: thay đổi một yếu tố cố định (ví dụ sở thích, thị hiếu) tạo ra thay đổi tiêu dùng
dự kiến ở tất cả các mức giá, dịch chuyển đường cầu sang phải (tăng cầu), sang trái (giảm
cầu).
Thay đổi số lượng cầu: tạo ra bởi chính giá cả của hàng hóa đó và kết quả là di chuyển dọc
theo đường cầu.
Giá (hàng hóa) liên quan: giá của hàng hóa bổ sung hay thay thế bao gồm trong tiêu dùng
tương lai.
Cung:
Đường cung: là một đường (bảng) biểu diễn số lượng một loại hàng hóa mà một người bán
sẵn lòng hay có thể bán ứng với những mức giá khác nhau với giả định về chi phí sản xuất
được xác định bởi giá các nhập lượng, công nghệ, và số lượng người bán cho trước.
Luật cung: tăng giá (P) làm tăng số lượng cung (Q).
Thay đổi cung: thay đổi chi phí sản xuất làm ảnh hưởng đến doanh số bán dự kiến tại tất cả
các mức giá, dịch chuyển đường cung sang phải (tăng cung), sang trái (giảm cung).
Thay đổi số lượng cung: tạo ra bởi chính giá cả của hàng hóa đó và kết quả là di chuyển dọc
theo đường cung.
Cân bằng thị trường:
Cân bằng: khi giá được xác định (Pe) nơi mà số lượng cầu = số lượng cung.
Đặc điểm cân bằng:
P > Pe ,thặng dư
P < Pe , thiếu hụt
P = Pe, ổn định
Kiểm soát giá:
Giá trần (thấp hơn mức giá cân bằng): thiếu hụt và thị trường chợ đen.
Giá sàn (cao hơn mức giá cân bằng): thặng dư và có tình trạng lừa dối.
Thay đổi cân bằng: giá cân bằng sẽ thay đổi bất cứ khi nào đường cung hay đường cầu dịch
chuyển
Đo lường
Đo lường sản lượng/thu nhập
GDP (tổng sản phẩm trong nước hay tổng sản phẩm quốc nội): giá trị thị trường của toàn bộ
hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra hay sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc
gia trong khoảng thời gian nhất định (một năm).
Ba phương pháp tính GDP:
Giá trị gia tăng: Giá trị sản xuất – Giá trị nhập lượng đầu vào (từ các doanh nghiệp)
Thu nhập: Tiền lương + Các khoản thu nhập cho thuê + Lợi nhuận + Lãi + Các
khoản điều chỉnh.
Chi tiêu: Tổng gộp tất cả các khoản chi tiêu hàng hóa và dịch vụ cuối cùng
C + I + G + X – M
Về nguyên tắc: Cả ba phương pháp này đều cho kết quả như nhau (tất nhiên phải qua
điều chỉnh và không tính trùng)
Ba loại khái niệm thông thường:
Quốc dân (National) và quốc nội (Domestic) – khác nhau phần thu nhập yếu tố ròng
từ nước ngoài.
Giá thị trường (Market prices) và giá theo chi phí sản xuất (Factor costs) – khác
nhau phần thuế gián thu (ròng).
Gộp (Gross) và ròng (Net) – khác nhau phần khấu hao.
GDP thực = GDP danh nghĩa / chỉ số giá
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:
KINH TẾ VĨ MÔ CƠ BẢN1
Tổng quan
Kinh tế học: nghiên cứu cách thức các nguồn lực khan hiếm được phân bổ cho các nhu cầu
sử dụng mang tính cạnh tranh.
Các câu hỏi chủ yếu của kinh tế học:
Sản xuất cái gì?
Sản xuất như thế nào?
Sản xuất cho ai?
Giới hạn khả năng sản xuất:
Các kết hợp hàng hóa và dịch vụ cuối cùng có thể được sản xuất ra trong một giai đoạn cho
trước ứng với trình độ công nghệ và các nguồn lực sẵn có và có giới hạn.
Chi phí cơ hội – để có được hay sản xuất được thêm một hàng hóa thì phải giảm sản
xuất một hay một số hàng hóa khác (cơ hội bị mất).
Định luật về chi phí cơ hội tăng lên – để có thêm một hàng hóa phải hy sinh hay giảm
bớt một số lượng ngày càng nhiều hơn hàng hóa khác trong kết hợp chọn lọc.
Bên trong của đường giới hạn – thể hiện các nguồn lực chưa được sử dụng hết hay
tình trạng không hiệu quả.
Mở rộng hay sự nở ra bên ngoài của đường giới hạn – thể hiện sự gia tăng của các
nguồn lực và công nghệ tiên tiến.
Cách thức các lựa chọn được thực hiện:
Cơ chế thị trường – giá được xác định thông qua thị trường, giá ra tín hiệu hiện tượng
thặng dư hay thiếu hụt. Dựa vào đó, các chủ thể kinh doanh phân bổ nguồn lực nhằm
tận dụng lợi thế để tạo ra các nguồn lợi cao nhất.
Kinh tế mệnh lệnh – cơ quan trung ương phân bổ nguồn lực để đạt được các mục tiêu.
Kinh tế hỗn hợp – một nền kinh tế kết hợp cả dấu hiệu thị trường và phi thị trường để
phân bổ hàng hóa và nguồn lực.
Kinh tế học vĩ mô: nghiên cứu các hoạt động hay các biến tổng gộp của nền kinh tế như sản
phẩm quốc dân, mức nhân dụng hay mức giá.
Kinh tế học vi mô: nghiên cứu hành vi cá nhân của nhà sản xuất và người tiêu dùng vận hành
và hoạt động trong các thị trường riêng lẻ của nền kinh tế.
Cung – Cầu
Cầu:
Đường cầu (biểu cầu): là một đường (bảng) biểu diễn số lượng một loại hàng hóa mà một
người tiêu dùng sẵn lòng hay có thể mua ứng với những mức giá khác nhau với giả định về
sở thích, thị hiếu, thu nhập, giá hàng hóa liên quan, và số lượng người mua cho trước.
Luật cầu: tăng giá (P) làm giảm số lượng cầu (Q).
Thay đổi cầu: thay đổi một yếu tố cố định (ví dụ sở thích, thị hiếu) tạo ra thay đổi tiêu dùng
dự kiến ở tất cả các mức giá, dịch chuyển đường cầu sang phải (tăng cầu), sang trái (giảm
cầu).
Thay đổi số lượng cầu: tạo ra bởi chính giá cả của hàng hóa đó và kết quả là di chuyển dọc
theo đường cầu.
Giá (hàng hóa) liên quan: giá của hàng hóa bổ sung hay thay thế bao gồm trong tiêu dùng
tương lai.
Cung:
Đường cung: là một đường (bảng) biểu diễn số lượng một loại hàng hóa mà một người bán
sẵn lòng hay có thể bán ứng với những mức giá khác nhau với giả định về chi phí sản xuất
được xác định bởi giá các nhập lượng, công nghệ, và số lượng người bán cho trước.
Luật cung: tăng giá (P) làm tăng số lượng cung (Q).
Thay đổi cung: thay đổi chi phí sản xuất làm ảnh hưởng đến doanh số bán dự kiến tại tất cả
các mức giá, dịch chuyển đường cung sang phải (tăng cung), sang trái (giảm cung).
Thay đổi số lượng cung: tạo ra bởi chính giá cả của hàng hóa đó và kết quả là di chuyển dọc
theo đường cung.
Cân bằng thị trường:
Cân bằng: khi giá được xác định (Pe) nơi mà số lượng cầu = số lượng cung.
Đặc điểm cân bằng:
P > Pe ,thặng dư
P < Pe , thiếu hụt
P = Pe, ổn định
Kiểm soát giá:
Giá trần (thấp hơn mức giá cân bằng): thiếu hụt và thị trường chợ đen.
Giá sàn (cao hơn mức giá cân bằng): thặng dư và có tình trạng lừa dối.
Thay đổi cân bằng: giá cân bằng sẽ thay đổi bất cứ khi nào đường cung hay đường cầu dịch
chuyển
Đo lường
Đo lường sản lượng/thu nhập
GDP (tổng sản phẩm trong nước hay tổng sản phẩm quốc nội): giá trị thị trường của toàn bộ
hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra hay sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc
gia trong khoảng thời gian nhất định (một năm).
Ba phương pháp tính GDP:
Giá trị gia tăng: Giá trị sản xuất – Giá trị nhập lượng đầu vào (từ các doanh nghiệp)
Thu nhập: Tiền lương + Các khoản thu nhập cho thuê + Lợi nhuận + Lãi + Các
khoản điều chỉnh.
Chi tiêu: Tổng gộp tất cả các khoản chi tiêu hàng hóa và dịch vụ cuối cùng
C + I + G + X – M
Về nguyên tắc: Cả ba phương pháp này đều cho kết quả như nhau (tất nhiên phải qua
điều chỉnh và không tính trùng)
Ba loại khái niệm thông thường:
Quốc dân (National) và quốc nội (Domestic) – khác nhau phần thu nhập yếu tố ròng
từ nước ngoài.
Giá thị trường (Market prices) và giá theo chi phí sản xuất (Factor costs) – khác
nhau phần thuế gián thu (ròng).
Gộp (Gross) và ròng (Net) – khác nhau phần khấu hao.
GDP thực = GDP danh nghĩa / chỉ số giá
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:
You must be registered for see links