Download Cảm thụ văn - thơ lớp 8
KHI CON TU HÚ – TỐ HỮU
1. “Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín ,trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không.”
Sáu câu thơ lục bát trong đoạn đầu bài thơ”Khi con tu hú” thật trong trẻo, thanh thoát nhưng đã mở ra cả một thế giới rộn ràng, tràn trề nhựa sống, đó cũng là bức tranh vào hè tươi đẹp quyến rũ của xứ Huế. Bức tranh ấy rực rỡ với màu vàng của “lúa chiêm đương chín”, của “bắp rây”, màu đỏ của”nắng đào",màu xanh của”vườn râm”. Đó là tiếng ve ngân và tiếng chim tu hú kêu ngoài bãi rộ n rã. Và đẹp nhất ẫn tượng nhất là bầu trời xanh biếc “cao” lồng lộng và”rộng” tới vô tận để cho những cánh diều sáo thỏa sức “lộn nhào” giữa “tầng không”. Tất cả sự sống như bừng dậy như bước vào độ chín. Tất cả đều chan hoa ánh sáng rực rỡ sắc màu, rộn rã âm thanh , ngọt ngào hương vị và nhất là đất trời như cao rộng hơn, khoáng đạt hơn làm nổi lên “ tiếng chim tu hú kêu” cũng là tiếng gọi của mùa hè, tiếng gọi của cảnh trời tự do. Tiếng chim ấy đã thức dậy tất cả , mở ra tất cả, và bắt nhịp cho tất cả.Phải thèm khát tự do, yêu sự sống đến cháy ruột thì người tù cách mạng mới huy động mọi giác quan căng ra để đón nhận tất cả tín hiệu của cuộc sống bên ngoài, và vẽ ra trong tâm tưởng của mình một cảnh trời tự do bao la tràn đầy sức sống đến như vậy. Đằng sau những câu thơ đẹp đẽ ấy, ta còn thấy một tâm hồn thật trẻ trung và yêu đời nồng nàn của người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi Tố Hữu.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-12-cam_thu_van_tho_lop_8.QyvXOTMbZl.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-40375/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Khổ cuối bài thơ”Ông đồ” là lời tâm sự của tác giả - nhà thơ Vũ Đình Liên:
“Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
NHững người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”
Hình ảnh “ hoa đào nở” và“ông đồ” già một lần nữa được lặp lại ở cuối bài thơ. Đó là kiểu kết cấu “ đầu cuối tương ứng” làm nổi bật chủ đề của bài thơ. Đó cũng là cái tứ” cảnh cũ vẫn còn mà ng xưa đôu thấy” đầy gợi cảm thường gặp trong thơ cổ. Từ “xưa” trong cụm từ”ông đồ xưa” được dùng rất hay và đầy ngụ ý. Dường như, hình ảnh ông đồ đã vĩnh viễn đi vào quá khứ, không tồn tại để cho bao nỗi khắc khoải thương tiếc ngậm ngùi của nhà thơ trào dâng chứa chất câu hỏi tu từ:” Những ng muôn năm cũ / Hồn ở đôu bh?” Đây là lời tự vấn, câu hỏi không trả lời. Từ sự vắng bóng của ông đồ vào ngày tết mà tác giả bâng khuâng xót xa nghĩ tới” Những ng muôn năm cũ” kbh thấy nữa.”Hồn” của họ-những giá trị văn hóa mà họ đã đóng góp cho c/s tinh thần quê hương đất nước, bh ở đôu r? Câu hỏi ấy cứ vấn vương mãi làm ý thơ không khép được, gieo vào lòng ng đọc nỗi ám ảnh day dứt không nguôi về những j tốt đẹp của một thời lẽ ra phải được giữ lại, phải sống mãi vs đất nước này.
Trong bài thơ “Ông đồ” Vũ ĐÌnh Liên đã thể hiện tấm lòng tiếc thương hoài cổ trước một lớp người sinh ra không gặp thời, trong đó có những câu thơ mượn cảnh ngụ tình độc đáo bộc lộ sâu sắc tâm trạng của ông đồ Nho:
“Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay”
“Lá vàng rơi “ là chi tiết gợi buồn, gợi sự tàn phai,rơi rụng . Ở đây lại “ rơi trên giấy”, những tờ giấy đỏ nhạt phai ủ ê, cứ phơi ra đấy bày ra đấy hứng lá vàng rơi, ông đồ không buồn nhặt nó đi bởi có ai thuê viết câu đối đôu mà ông động đến nó. Chỉ vậy thôi có lẽ ng đọc cũng đã cảm nhận được cõi lòng tan nát của ông đồ già! Đặc biết , thi sĩ còn khéo chọn cảnh”mưa bụi bay” để đặc tả tình người. Những hạt mưa li ti bình dị mà chứa chất đầy tâm trạng , mưa rắc bụi vào không gian mà như rắc cả cái giá lạnh vào lòng người. Hình ảnh” mưa bụi bay” dường như đang xóa nhòa đi hình ảnh gầy gò tội nghiệp của ông đồ già. Rõ ràng chỉ bằng hai câu thơ thấm đẫm tâm trạng ấy, Vũ Đình Liên đã bày tỏ được nỗi buồn thấm từ hồn người đến cảnh vật, làm cảnh vật càng ảm đạm thê lương. Phải chăng đó cũng là bức tranh thời tàn của ông đồ?
Em vô cùng yêu thích hai câu thơ nói về ông đồ già của Vũ Đình Liên:
“Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu”
Nhờ biện pháp nhân hóa tài tình mà hai câu thơ có sức gợi cảm cao. Nó làm người đọc nhận thấy cái buồn ẩn trong từng nét chữ, ý thơ, thấm vào những vật vô tri như” giấy đỏ””nghiên mực”. Màu đỏ thắm của giấy điều không còn nữa, nó đã phai nhạt dần bởi giấy cứ phơi ra bày ra nhưng chẳng ai cần đến, chẳng ai buồn động vào. Thời gian và cát bụi làm cho những tờ giấy đỏ ế ẩm ấy trở thành màu buồn tẻ, nhạt phai”không thắm”. Và nghiên mực của ông đồ cũng vậy, mực tàu đã mài ra nhưng chẳng được chiếc bút lông chấm vào nên nó lắng xuống, khô lại trở thành”nghiên sầu”. Phải chăng cảnh “buồn “ của giấy, “sầu” của mực đang diễn tả cái thế bó gối , bất động, cô đơn của con người? Phải chăng ông đồ ngồi đó nhưng đã bị lạc lõng hay lãng quên giữa cảnh đường phố đông vui. Có lẽ hai câu thơ đã khắc họa hình ảnh ông đồ - một nghệ sĩ mất công chúng khi thời thế thay đổi, và những nét đẹp truyền thống văn hóa dân tộc đã bị lãng quên. Qua đó ta còn thấy được sự trân trọng cảm thương cuả nhà thơ với một lớp người đã qua.
NHỚ RỪNG – THẾ LỮ
1. Trong bài thơ “Nhớ rừng”, nỗi nhớ về một thời vàng son huy hoàng của con hổ đã được nhà thơ Thế Lữ thể hiện đặc sắc qua các câu hỏi tu từ liên tiếp, đặc biệt mỗi câu hỏi ấy lại được gắn với một kỷ niệm đẹp đẽ thời quá khứ lại càng làm ý thơ trở nên sâu sắc hơn. Qua đó nỗi “nhớ rừng” của chúa sơn lâm càng trở nên mãnh liệt nhường nào. Các từ “nào đâu””đâu” vừa để hỏi vừa để giãi bày cảm giác hẫng hụt dai dẳng kiếm tìm vô vọng những kỷ niệm tuột khỏi tay. Đó là những đêm” trăng vàng bên bờ suối”, những ngày mưa con hổ “lặng ngắm giang san” rồi những bình minh mà chúa sơn lâm trở thành bậc đế vương có “tiếng chim ca ru giấc ngủ”, những chiều hoàng hôn”đỏ” lênh láng mà con hổ ở vị trí chúa tể chiếm lĩnh ca chốn núi rừng hùng vĩ. Không chỉ có thế những câu hỏi tu từ liên tiếp dồn dập ấy còn gieo vào lòng người đọc những lời than vãn, tiếng thở dài ngao ngán , đầy nuối tiếc, quãng đời oanh liệt ở chốn đại ngàn mà chúa sơn lân ngự trị. Bằng cách sử dụng câu hỏi tu từ thật tài hoa, Thế Lữ đã diễn tả thành công tâm trạng day dứt, một nột tâm đa dạng phong phú đang diễn ra mạnh mẽ trong con hổ khi bị giam cầm trong vườn Bách Thú.
2. Trong bài thơ “Nhớ rừng” , Thế Lữ đã có những câu thơ tuyệt bút:
“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?”
Với nghệ thuật ẩn dụ đặc sắc những”đêm vàng”, hai câu thơ đã khắc họa tài tình cả một thời kì hoàng kim , thời vàng son trong quá khứ của “Chúa sơn lâm” nay bị sa cơ. Đó là một bức tranh thiên nhiên vàng ngợi ánh trăng, trăng rọi xuống dòng suối chan hòa lan tỏa khắp mặt nước làm nước suối hòa lẫn một sắc vàng với trăng. Và khi đó, sau khi “say mồi” con hổ đang chậm rãi cúi xuống suối uống nước làm mặt nước lung linh xao động muôn ngàn bóng trăng vỡ ra, tan ra lóng lánh. Do đó trong cảm nhận con người dường như con hổ đang”uống ánh trăng tan”. Cách nói ấy thật tài hoa đưa lại vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng và hào phóng. Và trong khung cảnh kì diệu ấy phải chăng con hổ là một thi sĩ đang vừa uống nước vừa lặng ngắm giang sơn hùng vĩ của đại ngàn trong niềm say đắm ngất ngây. Nhưng thật tiếc, tất cả đã lui về quá khứ mà giờ đây chúa sơn lâm vừa ngẫm nghĩ vừa nuối tiếc”nào đâu?...”. Câu hỏi tu từ ấy như tiếng thở dài ngao ngán.
QUÊ HƯƠNG – TẾ HANH
Bài thơ Quê Hương của Tế Hanh đầy ắp những kỉ niệm về một làng chài ven biển, nhưng ấn tượng nhất với em là những câu thơ viết về hình ảnh con thuyền ra khơi đánh cá :
“Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang”
Hình ảnh con thuyền được so sánh như con tuấn mã- một con ngựa đẹp, phi nhanh. Đây là hình ảnh so sánh độc đáo gợi cho ta vẻ đẹp của con thuyền tràn trề sức sống đầy sinh khí đang băng băng lướt trên đại dương và hơn hết con thuyền đó đang được điều khiển bởi những đôi tay chèo mạnh mẽ khỏe khắn, phi thường của những chàng trai trẻ làng chài. Các động từ mạnh như”phăng”,”hăng” đã diễn tả nổi bật điều đó.Với không khí ra khơi đầy hăm hở, hào hứng như vậy, chắc chắn con thuyền sẽ vượt qua mọi khó khăn, sóng to gió lớn của biển cả, và kiêu hãnh “vượt trường giang” bao la muôn trùng. Quả thật đây là một hình ảnh đẹp , khỏe khắn th
Download miễn phí Cảm thụ văn - thơ lớp 8
KHI CON TU HÚ – TỐ HỮU
1. “Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín ,trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không.”
Sáu câu thơ lục bát trong đoạn đầu bài thơ”Khi con tu hú” thật trong trẻo, thanh thoát nhưng đã mở ra cả một thế giới rộn ràng, tràn trề nhựa sống, đó cũng là bức tranh vào hè tươi đẹp quyến rũ của xứ Huế. Bức tranh ấy rực rỡ với màu vàng của “lúa chiêm đương chín”, của “bắp rây”, màu đỏ của”nắng đào",màu xanh của”vườn râm”. Đó là tiếng ve ngân và tiếng chim tu hú kêu ngoài bãi rộ n rã. Và đẹp nhất ẫn tượng nhất là bầu trời xanh biếc “cao” lồng lộng và”rộng” tới vô tận để cho những cánh diều sáo thỏa sức “lộn nhào” giữa “tầng không”. Tất cả sự sống như bừng dậy như bước vào độ chín. Tất cả đều chan hoa ánh sáng rực rỡ sắc màu, rộn rã âm thanh , ngọt ngào hương vị và nhất là đất trời như cao rộng hơn, khoáng đạt hơn làm nổi lên “ tiếng chim tu hú kêu” cũng là tiếng gọi của mùa hè, tiếng gọi của cảnh trời tự do. Tiếng chim ấy đã thức dậy tất cả , mở ra tất cả, và bắt nhịp cho tất cả.Phải thèm khát tự do, yêu sự sống đến cháy ruột thì người tù cách mạng mới huy động mọi giác quan căng ra để đón nhận tất cả tín hiệu của cuộc sống bên ngoài, và vẽ ra trong tâm tưởng của mình một cảnh trời tự do bao la tràn đầy sức sống đến như vậy. Đằng sau những câu thơ đẹp đẽ ấy, ta còn thấy một tâm hồn thật trẻ trung và yêu đời nồng nàn của người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi Tố Hữu.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-12-cam_thu_van_tho_lop_8.QyvXOTMbZl.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-40375/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Tóm tắt nội dung:
ÔNG ĐỒ - VŨ ĐÌNH LIÊNKhổ cuối bài thơ”Ông đồ” là lời tâm sự của tác giả - nhà thơ Vũ Đình Liên:
“Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
NHững người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”
Hình ảnh “ hoa đào nở” và“ông đồ” già một lần nữa được lặp lại ở cuối bài thơ. Đó là kiểu kết cấu “ đầu cuối tương ứng” làm nổi bật chủ đề của bài thơ. Đó cũng là cái tứ” cảnh cũ vẫn còn mà ng xưa đôu thấy” đầy gợi cảm thường gặp trong thơ cổ. Từ “xưa” trong cụm từ”ông đồ xưa” được dùng rất hay và đầy ngụ ý. Dường như, hình ảnh ông đồ đã vĩnh viễn đi vào quá khứ, không tồn tại để cho bao nỗi khắc khoải thương tiếc ngậm ngùi của nhà thơ trào dâng chứa chất câu hỏi tu từ:” Những ng muôn năm cũ / Hồn ở đôu bh?” Đây là lời tự vấn, câu hỏi không trả lời. Từ sự vắng bóng của ông đồ vào ngày tết mà tác giả bâng khuâng xót xa nghĩ tới” Những ng muôn năm cũ” kbh thấy nữa.”Hồn” của họ-những giá trị văn hóa mà họ đã đóng góp cho c/s tinh thần quê hương đất nước, bh ở đôu r? Câu hỏi ấy cứ vấn vương mãi làm ý thơ không khép được, gieo vào lòng ng đọc nỗi ám ảnh day dứt không nguôi về những j tốt đẹp của một thời lẽ ra phải được giữ lại, phải sống mãi vs đất nước này.
Trong bài thơ “Ông đồ” Vũ ĐÌnh Liên đã thể hiện tấm lòng tiếc thương hoài cổ trước một lớp người sinh ra không gặp thời, trong đó có những câu thơ mượn cảnh ngụ tình độc đáo bộc lộ sâu sắc tâm trạng của ông đồ Nho:
“Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay”
“Lá vàng rơi “ là chi tiết gợi buồn, gợi sự tàn phai,rơi rụng . Ở đây lại “ rơi trên giấy”, những tờ giấy đỏ nhạt phai ủ ê, cứ phơi ra đấy bày ra đấy hứng lá vàng rơi, ông đồ không buồn nhặt nó đi bởi có ai thuê viết câu đối đôu mà ông động đến nó. Chỉ vậy thôi có lẽ ng đọc cũng đã cảm nhận được cõi lòng tan nát của ông đồ già! Đặc biết , thi sĩ còn khéo chọn cảnh”mưa bụi bay” để đặc tả tình người. Những hạt mưa li ti bình dị mà chứa chất đầy tâm trạng , mưa rắc bụi vào không gian mà như rắc cả cái giá lạnh vào lòng người. Hình ảnh” mưa bụi bay” dường như đang xóa nhòa đi hình ảnh gầy gò tội nghiệp của ông đồ già. Rõ ràng chỉ bằng hai câu thơ thấm đẫm tâm trạng ấy, Vũ Đình Liên đã bày tỏ được nỗi buồn thấm từ hồn người đến cảnh vật, làm cảnh vật càng ảm đạm thê lương. Phải chăng đó cũng là bức tranh thời tàn của ông đồ?
Em vô cùng yêu thích hai câu thơ nói về ông đồ già của Vũ Đình Liên:
“Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu”
Nhờ biện pháp nhân hóa tài tình mà hai câu thơ có sức gợi cảm cao. Nó làm người đọc nhận thấy cái buồn ẩn trong từng nét chữ, ý thơ, thấm vào những vật vô tri như” giấy đỏ””nghiên mực”. Màu đỏ thắm của giấy điều không còn nữa, nó đã phai nhạt dần bởi giấy cứ phơi ra bày ra nhưng chẳng ai cần đến, chẳng ai buồn động vào. Thời gian và cát bụi làm cho những tờ giấy đỏ ế ẩm ấy trở thành màu buồn tẻ, nhạt phai”không thắm”. Và nghiên mực của ông đồ cũng vậy, mực tàu đã mài ra nhưng chẳng được chiếc bút lông chấm vào nên nó lắng xuống, khô lại trở thành”nghiên sầu”. Phải chăng cảnh “buồn “ của giấy, “sầu” của mực đang diễn tả cái thế bó gối , bất động, cô đơn của con người? Phải chăng ông đồ ngồi đó nhưng đã bị lạc lõng hay lãng quên giữa cảnh đường phố đông vui. Có lẽ hai câu thơ đã khắc họa hình ảnh ông đồ - một nghệ sĩ mất công chúng khi thời thế thay đổi, và những nét đẹp truyền thống văn hóa dân tộc đã bị lãng quên. Qua đó ta còn thấy được sự trân trọng cảm thương cuả nhà thơ với một lớp người đã qua.
NHỚ RỪNG – THẾ LỮ
1. Trong bài thơ “Nhớ rừng”, nỗi nhớ về một thời vàng son huy hoàng của con hổ đã được nhà thơ Thế Lữ thể hiện đặc sắc qua các câu hỏi tu từ liên tiếp, đặc biệt mỗi câu hỏi ấy lại được gắn với một kỷ niệm đẹp đẽ thời quá khứ lại càng làm ý thơ trở nên sâu sắc hơn. Qua đó nỗi “nhớ rừng” của chúa sơn lâm càng trở nên mãnh liệt nhường nào. Các từ “nào đâu””đâu” vừa để hỏi vừa để giãi bày cảm giác hẫng hụt dai dẳng kiếm tìm vô vọng những kỷ niệm tuột khỏi tay. Đó là những đêm” trăng vàng bên bờ suối”, những ngày mưa con hổ “lặng ngắm giang san” rồi những bình minh mà chúa sơn lâm trở thành bậc đế vương có “tiếng chim ca ru giấc ngủ”, những chiều hoàng hôn”đỏ” lênh láng mà con hổ ở vị trí chúa tể chiếm lĩnh ca chốn núi rừng hùng vĩ. Không chỉ có thế những câu hỏi tu từ liên tiếp dồn dập ấy còn gieo vào lòng người đọc những lời than vãn, tiếng thở dài ngao ngán , đầy nuối tiếc, quãng đời oanh liệt ở chốn đại ngàn mà chúa sơn lân ngự trị. Bằng cách sử dụng câu hỏi tu từ thật tài hoa, Thế Lữ đã diễn tả thành công tâm trạng day dứt, một nột tâm đa dạng phong phú đang diễn ra mạnh mẽ trong con hổ khi bị giam cầm trong vườn Bách Thú.
2. Trong bài thơ “Nhớ rừng” , Thế Lữ đã có những câu thơ tuyệt bút:
“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?”
Với nghệ thuật ẩn dụ đặc sắc những”đêm vàng”, hai câu thơ đã khắc họa tài tình cả một thời kì hoàng kim , thời vàng son trong quá khứ của “Chúa sơn lâm” nay bị sa cơ. Đó là một bức tranh thiên nhiên vàng ngợi ánh trăng, trăng rọi xuống dòng suối chan hòa lan tỏa khắp mặt nước làm nước suối hòa lẫn một sắc vàng với trăng. Và khi đó, sau khi “say mồi” con hổ đang chậm rãi cúi xuống suối uống nước làm mặt nước lung linh xao động muôn ngàn bóng trăng vỡ ra, tan ra lóng lánh. Do đó trong cảm nhận con người dường như con hổ đang”uống ánh trăng tan”. Cách nói ấy thật tài hoa đưa lại vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng và hào phóng. Và trong khung cảnh kì diệu ấy phải chăng con hổ là một thi sĩ đang vừa uống nước vừa lặng ngắm giang sơn hùng vĩ của đại ngàn trong niềm say đắm ngất ngây. Nhưng thật tiếc, tất cả đã lui về quá khứ mà giờ đây chúa sơn lâm vừa ngẫm nghĩ vừa nuối tiếc”nào đâu?...”. Câu hỏi tu từ ấy như tiếng thở dài ngao ngán.
QUÊ HƯƠNG – TẾ HANH
Bài thơ Quê Hương của Tế Hanh đầy ắp những kỉ niệm về một làng chài ven biển, nhưng ấn tượng nhất với em là những câu thơ viết về hình ảnh con thuyền ra khơi đánh cá :
“Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang”
Hình ảnh con thuyền được so sánh như con tuấn mã- một con ngựa đẹp, phi nhanh. Đây là hình ảnh so sánh độc đáo gợi cho ta vẻ đẹp của con thuyền tràn trề sức sống đầy sinh khí đang băng băng lướt trên đại dương và hơn hết con thuyền đó đang được điều khiển bởi những đôi tay chèo mạnh mẽ khỏe khắn, phi thường của những chàng trai trẻ làng chài. Các động từ mạnh như”phăng”,”hăng” đã diễn tả nổi bật điều đó.Với không khí ra khơi đầy hăm hở, hào hứng như vậy, chắc chắn con thuyền sẽ vượt qua mọi khó khăn, sóng to gió lớn của biển cả, và kiêu hãnh “vượt trường giang” bao la muôn trùng. Quả thật đây là một hình ảnh đẹp , khỏe khắn th