turtlegirl_241
New Member
Download Đào tạo và nghiên cứu luật tại đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh - Định hướng xây dựng và phát triển miễn phí
Chương trình đào tạo phải gắn liền với chiến lược phát triển của ĐHQG. TP. HCM thành một đại học nghiên cứu . Định hướng xây dựng Đại học quốc gia TP. HCM thành đại học nghiên cứu thì các trường thành viên của nó và sau này là trường đại học Kinh tế- Luật cũng phải được xây dựng và phát triển theo hướng đó. Chúng tôi cho rằng, để hướng đến mục tiêu xây dựng ĐHQG TP. HCM thành một đại học nghiên cứu thì cần có những yếu tố sau: Thứ nhất, có một chương trình hợp lý kết hợp lý thuyết và thực tiễn. Trường đại học nghiên cứu là nơi sinh viên học để làm điều chưa học, học cách học suốt đời, là nơi học để biết, học để làm, học để sống và học để sống với nhau. Trường đại học nghiên cứu là nơi sinh viên có thể được bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo và năng lực hành động sáng nghiệp. Đây chính là sự khác biệt cơ bản giữa đào toạ đại học và đào tạo nghề. Để đạt được mục tiêu nói trên chương trình đào tạo luật ở ĐHQG TP. HCM phải được thiết kế những môn học trang bị cho sinh viên không những kiến thức pháp luật thông thường mà cả tư duy pháp lý. Theo tôi, để đạt được mục tiêu nói trên chương trình đào tạo phải có những môn học mang tính lên kết có hệ thống giữa các lĩnh vực khác nhau: như kinh tế-luật, chính trị-luật và giữa các lĩnh vực pháp luật khác nhau. Muốn vậy người thầy không những phải là người nghiên cứu giỏi mà còn phải có cách đào tạo giỏi- đào tạo qua nghiên cứu và cho nghiên cứu
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU LUẬT TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM-ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂNTS. Nguyễn Thành Đức, Khoa Kinh tế, ĐHQG TP. HCM
TS. Dương Anh Sơn, Khoa Kinh tế, ĐHQG TP. HCM
Đặt vấn đề: Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TP. HCM hiện nay được coi là một trong những trung tâm đào tạo, nghiên cứu luật bắt đầu có uy tín ở Việt Nam. Khoá đầu tiên ra trường gần một năm nay và hiện nay hầu hết đã tìm được việc làm. Không những thế các nhà tuyển dụng có sự đánh giá khá cao khả năng thực hiện công việc, khả năng tiếp cận và giải quyết công việc của sinh viên luật Khoa Kinh tế, đánh giá khá cao chất lượng đào tạo. Như vậy sau một thời gian không nhiều Khoa Kinh tế đã khẳng định được là một trung tâm đào tạo luật có chất lượng, uy tín ở khu vực phía nam nói riêng, cả nước nói chung. Mặc dù đã đạt những kết quả bước đầu đáng khích lệ trong lĩnh vực đào tạo luật, tuy nhiên tui cho rằng, để việc đào tạo luật được tốt hơn, Khoa Kinh tế phải có chiến lược phát triển hợp lý, tạo ra được nét đặc thù so với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật khác ở Việt Nam. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tui có một số ý kiền liên quan đến những vấn đề nói trên.
1. Có lẽ tất cả chúng ta ai cũng biết rằng, nội dung chương trình có sự ảnh hưởng, tác động rất lớn đến chất lượng của giáo dục đại học. Khoa Kinh tế, ĐHQG TP. HCM mới được giao nhiệm vụ đào tạo luật nên trong quá trình xây dựng chương trình chúng tui đã tiếp thu, kế thừa chương trình của các cơ sở đào tạo luật khác nhau trong và ngoài nước. Mặc dù đã có một số chỉnh sửa và bổ sung, tuy nhiên hiện nay chương trình đào tào chưa có nhiều sự khác biệt so với chương trình của các cơ sở đào tạo luật khác trong nước. Mà chỉ dừng lại ở việc sắp xếp, bố trí lại các môn học và thời lượng của từng môn học. Sự đổi mới không nhiều này đã mang lại một số kết quả bước đầu, tuy nhiên chưa đủ để tạo ra nét đặc thù, điểm đặc trưng của đào tạo luật ở Khoa Kinh tế, ĐHQG TP. HCM. Tiếp tục đổi mới chương trình luôn là yêu cầu của công tác đào tạo.
Theo ý kiến của chúng tôi, việc định hướng xây dựng chương trình đào tạo, nghiên cứu luật ở Khoa Kinh tế, ĐHQG TP. HCM phải xuất phát từ: i) đặc thù của cơ sở đào tạo; ii) chiến lược chung của ĐHQG; iii) nhu cầu của thực tế; iv) Khả năng đáp ứng của đội ngũ giảng viên và.
Thứ nhất, chúng tui muốn nói đến đặc thù của cơ sở đào tạo. Mặc dù hiện nay Khoa Kinh tế chưa phải là một trường đại học, tuy nhiên trong tương lai gần Khoa Kinh tế sẽ là một trường đại học đa ngành, trực thuộc ĐHQG TP. HCM, trong đó việc đào tạo, nghiên cứu Luật chiếm một vị trí quan trọng giữa các ngành khác như Kinh tế học, Quản trị kinh doanh, Tài chính-ngân hàng, kế toán-kiểm toán…Trong bối cảnh như vậy thì theo tôi, việc đào tạo luật phải gắn liền với các lĩnh vực kinh tế. Xác định được mục tiêu như vậy nên khi xây dựng chương trình đào tạo phải ưu tiên cho lĩnh vực luật tư. Và đây chính là nét đặc thù của đào tạo luật tại Khoa Kinh tế.
Có thể nói rằng, với một thời lượng hạn chế (135 tín chỉ) nhưng chương trình đã dành thời lượng đáng kể cho việc giảng dạy các môn học thuộc lĩnh vực luật tư, bên cạnh đó vãn bố trí được một thời lượng hợp lý cho các môn học thuộc lĩnh vực luật công như Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự và tố tụng hình sự. Đây có thể nói là kết quả của sự cố gắng của Khoa Kinh tế.
Xuất phát từ đặc thù của cở sở đào tạo nên trong chương trình đào tạo luật tại Khoa Kinh tế môn Kinh tế học được được thiết kế với tư cách là một môn học bắt buộc với một thời lượng hợp lý. Qua nghiên cứu, giảng dạy chúng tui cho rằng, những lĩnh vực của pháp luật liên quan đến hoạt động thương mại đều có cội rễ từ Kinh tế học. Thật vậy có nhiều vấn đề của pháp luật chỉ có thể được lý giải một cách thấu đáo nếu biết sử dụng những kiến thức của kinh tế học. Đây cũng được coi là xu thế mới hiện nay: theo tui kinh tế học quan tâm đến hiệu quả bất chấp hậu quả sẽ ra sao, còn luật học quan tâm đến bản chất của hành vi và quan tâm đến hậu quả của hành vi đó. Trong khoa học pháp lý có thể tìm thấy rất nhiều mối quan hệ giữa hai ngành khoa học này. Tự do hợp đồng và tự do cạnh tranh có cùng nguồn gốc và lịch sử phát triển bởi chúng đều là các thành tố của tự do cá nhân. Nếu nói đến tự do hợp đồng mà không nói đến tự do cạnh tranh thì khó có thể lý giải được một cách toàn diện tại sao tự do hợp đồng trong nhiều trường hợp bị giới hạn bởi quy định của pháp luật. Hay khi lý giải cơ sở lý luận của pháp luật chống lạm dụng độc quyền, chống cạnh tranh không lành mạnh thì không thể không sử dụng các lý thuyết kinh tế. Dưới góc độ pháp lý, pháp luật chống lạm dụng vị trí độc quyền có chức năng bảo vệ quyền lợi của người yếu hơn trong quan hệ pháp luật, ví dụ, bằng cách không thừa nhận giá trị pháp lý của một số thoả thuận của các bên trong hợp đồng với mục đích cuối cùng là hướng tới lợi ích chung của toàn xã hội. Dưới góc độ kinh tế thì pháp luật chống lạm dụng vị trí độc quyền được coi là công cụ đảm bảo một cách tương đối trật tự thị trường làm tiền đề cho cạnh tranh lành mạnh và như vậy góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hay vấn đề tập trung kinh tế cũng cần được xem xét từ cả góc độ kinh tế và cả luật pháp. Tập trung kinh tế nhằm tạo ra sức mạnh cho doanh nghiệp, nhưng chỉ trong ngắn hạn và chỉ vì lợi ích của một hay một nhóm lợi ích nào đó mà thôi. Tuy nhiên trong dài hạn lại có thể gây hại cho thị trường, cho sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy mà pháp luật cần can thiệp trong một số trường hợp nhất định, ví dụ quy định thị phần kết hợp.
Không những môn học Kinh tế học cần được đưa vào chương trình một cách chính thức mà trong chương trình đào tạo luật cần dành một thời lượng hợp lý cho các môn học liên quan đến kinh tế với tư cách là các môn học tự chọn. Ví dụ, Quản trị học, Lịch sử các học thuyết kinh tế…Rõ ràng, giảng dạy, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến Luật thương mại quốc tế, luật lệ của WTO mà không có kiến thức cơ bản về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lợi thế so sánh của David Ricardo thì không thể biết được cơ sở lý luận của các Hiệp định thương mại song phương và đa phương. Cơ sở lý luận của tự do hoá thương mại là các học thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối, tuy nhiên nếu không có sự can thiệp một cách hợp lý của pháp luật thì hoạt động thương mại quốc tế sẽ không có trật tự, tạo ra những sự bất ổn trong xã hội. Và cho dù kinh tế sự tăng trưởng đáng kể nhưng điều kiện sống của con người không thể được cải thiện.
Lý thuyết kinh tế cũng có tác động đến việc tìm các giải pháp để hoàn thiện pháp luật. Khi mà chi phí thấp thì trước hết là lợi nhuận, sau đó phúc lợi của toàn xã hội được nâng cao. Vậy th