b4byk4t_pretty76
New Member
Download miễn phí Luận văn Một số giải pháp nhằm hạn chế những tranh chấp phát sinh trong quy trình nhập khẩu tại công ty xuất nhập khẩu vật tư đường biển
Một vài đánh giá về một số thị trường điển hình.
+ Nhật Bản: Đây đã từng là thị trường chính của công ty trong suốt quá trình hình thành và phát triển, từ khi công ty còn lấy xuất khẩu sắt vụ là chủ yếu. Hiện nay hàng hoá nhập khẩu sắt vụn là chủ yếu. Hiện nay hàng hoá nhập khẩu chủ yếu từ Nhật Bản là xe máy, xe ôtô, máy xúc, cáp thép, thép ống. Tuy nhiên, tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu tử Nhật Bản đang giảm mạnh vào năm 1998 và 1999 nhưng tới năm 2000 đã tăng lên gấp 5 lần năm 1999. Năm 2001 tỷ trọng hàng nhập khẩu của công ty ở thị trường này đã giảm sút rất lớn so năm 2000.
+ SNG: Trong thời gian gần đây, do nhận định thị trường SNG có nhiều mặt hàng máy móc, vật tư thiết bị phục vụ sản xuất phù hợp với ngành hàng kinh doanh của công ty , được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng về mặt chất lượng, giá cả, chủng loại. Công ty đã tìm hiểu nghiên cứu thị trường và nhập khẩu được nhiều máy móc thiết bị từ SNG.
SNG cũng là một quốc gia có ngành công nghiệp luyện kim phát triển. Mặt hàng kim khí sản xuất tại SNG đang có ưu thế giá rẻ, dễ mua bán. Điều này rất phù hợp với nhu cầu của công ty. Do đó định hướng coi SNG là thị trường nhập khẩu chủ yếu, là phương châm đúng đắn và hiệu quả . Tỷ trọng hàng hoá nhập từ thị trường SNG tương đối lớn trong cơ cấu hàng hoá NK của công ty.
SNG được đánh giá là thị trường dễ tính và có sức tiêu thụ hàng hoá lớn. Tuy nhiên tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu của công ty sang thị trường này đang giảm sút, vì vậy công ty cần khắc phục dần
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-30-luan_van_mot_so_giai_phap_nham_han_che_nhung_tranh.Kus2fV9DBc.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-48001/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
hiệp vụ chuyên ngành để đi sang thị trường của các nhà cung cấp.Tất cả các tông tin có được từ bước nghiên cứu thị trường được đơn vị tổng hợp lại, số bộ lựa chọn thị trường nhập khẩu và lập phương án kinh doanh.
Trước đây thị trường XK chủ yếu là Nhật Bản, công ty thường xuất sang Nhật Bản một lượng sắt phế thải tới hàng chục trấn lượng sắt được công ty thu mua trong nước và nhập khẩu từ Liên xô cũ. Trong những năm 1985-1993, với mặt hàng XK chủ yếu đó đơn vị đã thu được nguồn lợi lớn mà không phải mất nhiều công sứ để khai thác nguồn hàng và tìm kiếm thị trường .
Từ năm 1993 trở lại đây thị trường xuất khẩu đã có thay đổi . đế năm 1997 (hình 1), Nhật Bản Không còn là bạn hàng XK , thay vào là Trung Quốc , Đài Loan , SNG . Trong đó Trung Quốc chiếm thị trường lớn nhất 65% .Nguyên nhân do từ năm 1994 nhà nước cấm xuất khẩu sắt vụn. Phát triển thị trường xuất khẩu là một giải pháp để nâng cao kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên việc chiếm lính thị phần xuất khẩu khó hơn nhập khẩu nhiều. Mặt hàng xuất khẩu phải có tính cạnh tranh về giá, chất lượng...
Năm 1999 (hình 2 trang sau), bổ sung thêm 2 thị trường Hông Công và Singpo, năm 2000 có thêm thị trường Lào sự đa dạng hoá nhập khẩu đã dẫn tới sự đa dạng về thị trường NK (hình 3 trang sau). Từ năm 1997 trở lại đây, cơ cấu thị trường nhập khẩu của đơn vị ngày càng đa dạng có xu hướng dịch chuyến về khu vực Đông Âu. Cũng giống như thị trường xuốt khẩu, các nước Châu á vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhât. Năm 2000, đứng đầu thị phần Châu á là Hàn Quốc, nhỏ nhất là thị phần của các nước như Đức, Pháp, Italia, Australia. Điều này chứng tỏ nhu cầu hàng hoá của những nước công nghiệp ở Tây âu vẫn còn quá cao so với khả năng của công ty.
Năm 2001, công ty đã mở rộng cơ cấu mặt hàng kinh doanh tư thực nghiên cứu nhu cầu thị trường trong nước. Do đó ngoài các mặt hàng nhập khẩu vật tư hàng hoá, máy móc thiết bị thông thường như những năm trước, năm 2001 công ty đã thực hiện nhập khẩu 19.982 tấn thép các loại, 4988 tấn Amiăng, và
một số mặt hàng khác, ngoài ra công ty còn NK lượng dầu DO với trị giá 5.200.00 USD. Điều đó cho thấy rằng công ty đã mở rộng cơ cấu ngành hàng và ngay càng phát triển.
Một vài đánh giá về một số thị trường điển hình.
+ Nhật Bản: Đây đã từng là thị trường chính của công ty trong suốt quá trình hình thành và phát triển, từ khi công ty còn lấy xuất khẩu sắt vụ là chủ yếu. Hiện nay hàng hoá nhập khẩu sắt vụn là chủ yếu. Hiện nay hàng hoá nhập khẩu chủ yếu từ Nhật Bản là xe máy, xe ôtô, máy xúc, cáp thép, thép ống.... Tuy nhiên, tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu tử Nhật Bản đang giảm mạnh vào năm 1998 và 1999 nhưng tới năm 2000 đã tăng lên gấp 5 lần năm 1999. Năm 2001 tỷ trọng hàng nhập khẩu của công ty ở thị trường này đã giảm sút rất lớn so năm 2000.
+ SNG: Trong thời gian gần đây, do nhận định thị trường SNG có nhiều mặt hàng máy móc, vật tư thiết bị phục vụ sản xuất phù hợp với ngành hàng kinh doanh của công ty , được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng về mặt chất lượng, giá cả, chủng loại. Công ty đã tìm hiểu nghiên cứu thị trường và nhập khẩu được nhiều máy móc thiết bị từ SNG.
SNG cũng là một quốc gia có ngành công nghiệp luyện kim phát triển. Mặt hàng kim khí sản xuất tại SNG đang có ưu thế giá rẻ, dễ mua bán. Điều này rất phù hợp với nhu cầu của công ty. Do đó định hướng coi SNG là thị trường nhập khẩu chủ yếu, là phương châm đúng đắn và hiệu quả . Tỷ trọng hàng hoá nhập từ thị trường SNG tương đối lớn trong cơ cấu hàng hoá NK của công ty.
SNG được đánh giá là thị trường dễ tính và có sức tiêu thụ hàng hoá lớn. Tuy nhiên tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu của công ty sang thị trường này đang giảm sút, vì vậy công ty cần khắc phục dần
- Thị trường Singapo: Hiện nay công ty đã có hàng hoá xuất khẩu sang Singapo nhưng chủng loại vẫn còn cùng kiệt nàn, chỉ có Sameguel và mây đã qua sơ chế. Việt nam và Singapo cùng ở trong khu vực Đông Nam á, do đó công ty nên tạn dụng điều kiện địa lý này để xuất khẩu hàng hoá với chi phí vận chuyển thấp
- Công ty cũng đã nhập khẩu nhiều loại hàng hoá từ thị trường Singapo. Năm 1999-2000 chủ yếu là nhập khẩu máy móc, thiết bị cho ngành điện, bưu chính viễn thông. Nhưng tới năm 2001 tỷ trọng nhập khẩu các mặt hàng trên giảm sút là do các mặt hàng đó hiện nay công ty đã chuyển sang NK từ SNG do giá rẻ hơn, chất lượng tương đương. Cuối năm 2001 công ty đã nhập khẩu từ Singapo lượng dầu có giá trị tương đối lớn để cung ứng cho tàu biển nước ngaòi cập cảng Việt nam và các ngành công nghiệp trong nước.
- Thị trường Đài Loan: Mặt hành sản xuất chủ yếu của đơn vị là phao cứu sinh cho ngành hành hải lam từ nguyên liệu chính: nhựa EPS loại nhựa này trước đây được nhập khẩu từ Liên xô cũ hay từ Nhật Bản.
- Sau một thời gian nghiên cứu thị trường Đài Loan, công ty đã quyết định chuyển hướng nhập khẩu nhựa EPS từ Đài Loan, với lý do chất lượng vẫn đảm bảo mà giá lại rẻ bằng 40% nhựa ND từ Nhật Bản, Liên xô. Bên cạnh đó, công ty còn nhập khẩu một số loại máy móc nhỏ sản xuất tại Đài Loan
- Hàng xuất khẩu của công ty sang Đài Loan là các sản phẩm từ gỗ, cao su và tre. Tuy nhiên, hạn ngạch của Nhà nước về loại sản phẩm này đã hạn chế khả năng xuất khẩu. Việc tìm kiếm mặt hàng mới để xuất khẩu sang thị trường này đang là điều trăn trở của công ty
- Thị trường Hàn Quốc: Tỷ trọng nhập khẩu hàng hoá của Hàn Quốc đang dần dần tăng lên. Công ty nhập khẩu từ Hàn Quốc các phương tiện xếp dỡ vận tải, đặc biệt là các xe vật tải cỡ nhỏ. Ngoài ra, công ty còn nhập khẩu từ thị trường này các loại sắt thép xây dựng, tôn đóng tàu, nhôm nguyên liêu.. hiện nay công ty vẫn chưa xuất khẩu được một mặt hành nào sang Hàn Quốc.
Thị trường Trung Quốc: Do tính chất đặc biệt của ngành hàng trước đây nên công ty hầu như không nhập hàng hoá từ Trung Quốc. Quan hệ thương mại chủ yế là xuất khẩu, thị phần hàng hoá xuất khẩu sang Trung Quốc vẫn ổn định, bao gồm những mặt hàng trái cây, mây sơ chế, chỉ sơ dừa... với định hướng tăng cường xuất khẩu hay tiêu dùng, công ty vẫn chưa khai thác được ưu thế giá rẻ
của hàng tiêu dùng Trung Quốc như địa lý thuận lợi giữa Trung Quốc và Nhà nước
Qua việc phân tích một số thị trường chính ta thấy rằng sau mỗi năm, công ty càng vươn rộng ra thị trường quốc tế, càng có nhiều kinh nghiệm hơn trong buôn bán ngoại thương, đây là một ưu thế của công ty. Tuy nhiên cơ cấu thị trường xuất khẩu còn ít, công ty chưa tậm dụng được mối quan hệ thương mại của mình với các nước bạn hành nhập khẩu để từ đó xuất khẩu trở lại hàng hoá của Việt Nam.
Quy trinh nhập khẩu của công ty.
Công ty XNK vật tư đường biển trực tiếp thực hiện công tác kinh doanh với các đối tác. Qua việc nghiên cứu thị trường đội ngũ cán bộ có nghiệp vụ trong lính vực kinh doanh XNK thực hiện quy định nhập khẩu qua các bước sau
1-Bước 1: Tập hợp nhu cầu khách hàng: Dựa t...