sh0ck_ke_ta0
New Member
Download miễn phí Chuyên đề Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống xúc tiến hỗn hợp trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ở Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Hợp tác Đầu tư VILEXIM
Để thực hiện kinh doanh XNK uỷ thác, XNK trực tiếp hàng hoá vật chất công ty có một trụ sở chính ở 170 đường Giải Phóng Hà Nội, một chi nhánh ở Hải Phòng, một chi nhánh tại TP. Hồ Chính Minh. Một thay mặt Công ty tại Viêng Chăn – Lào thay mặt công ty giải quyết những công việc do Công ty giao, thay mặt công ty thực hiện các mối quan hệ với Chính quyền địa phương, các khách hàng, chủ hàng phát triển và mở rộng hợp tác đầu tư với Lào.
Để phục vụ cho hoạt động XKLĐ công ty có một trung tâm XKLĐ ở 139 Lò Đúc và một chi nhánh đặt tại Hà Tây. Ngoài hai trung tâm này, công ty cũng thuê một số địa điểm khác để dạy ngoại ngữ và phối hợp với một số trường dạy nghề trong việc đào tạo nghề cho người lao động trước khi làm việc tại nước ngoài.
Đối với việc thực hiện hoạt động phân phối và tiêu thụ hàng hoá, công ty có hai kho dự trữ hàng hoá là kho Cổ Loa và Kho Tứ Kỳ có hai tầng, rộng khoảng từ 800 đến 1000 m2 đặt tại Gia Lâm và Đông Anh. Hai kho này vừa dùng làm nơi thu mua hàng hoá, nhập hàng từ nước ngoài về và cũng là nơi phân phối hàng hoá đến trực tiếp khách hàng hay là vận chuyển ra kho hải quan hay các phương tiện khác nếu là hàng xuất khẩu. Bên cạnh đó công ty còn thuê các kho khác hỗ trợ cho việc vận chuyển và tiêu thụ hàng hoá. Đối với việc tiêu thụ hàng hoá, công ty trực tiếp tiêu thụ hàng hoá của mình chứ không qua các đại lý trung gian khác.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-03-08-chuyen_de_mot_so_giai_phap_hoan_thien_he_thong_xuc.DlBgiqYiWE.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-62956/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
u hết các thị trường XKLĐ của công ty đều có sự tăng trưởng về giá trị xuất khẩu, nhưng khác nhau về tốc độ tăng trưởng giữa các khu vực thị trường và tỷ trọng của các khu vực thị trường đó trong cơ cấu XKLĐ của công ty. Thị trường Nhật mặc dù chiếm tỷ trọng rất thấp trong cơ cấu nhưng đến năm 2004 đã có tốc độ tăng trưởng phát triển nhất đạt 500,42%; các khu vực thị trường khác đều có mức tăng trưởng chậm lại. Thị trường Nhật Bản là thị trường yêu cầu trình độ của người lao động rất cao; trong những năm qua nhờ việc giới thiệu được một số chuyên gia Việt Nam sang công tác tại Nhật nên doanh thu thu về từ hoạt động này của công ty đã tăng cao. Khu vực thị trường chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu và đạt giá trị xuất khẩu cao nhất là khúc thị trường Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc với tỷ trọng chiếm 53% đạt trị giá 35.814,22 USD; thị trường lao động này mặc dù giá nhân công thấp hơn các khu vực khác nhưng có nhu cầu rất lớn, đặc biệt nhu cầu về lao động có trình độ thấp, rất thích hợp với lao động nông thôn Việt Nam hiện nay. Đối với khu vực thị trường truyền thống CIS Đông Âu, mức tăng trưởng có sự giảm mạnh nhất, từ 299,6% năm 2003 xuống còn 208,51% năm 2004. Nguyên nhân là do nhu cầu về lao động ở đây trong những năm qua có sự giảm sút, bên cạnh đó tiền lương và điều kiện sống cũng không được cải thiện so với trước lắm. Cũng như khu vực thị trường truyền thống, thị trường của công ty cũng có sự giảm sút về tốc độ lẫn tỷ trọng trong cơ cấu. Đây cũng là một trong những thị trường công ty hoạt động khá nhiều năm nên có sự hiểu biết khá rõ về nhu cầu; tuy nhiên sự giảm sút này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu giảm hơn so với các năm trước. Đánh giá tổng quan lại cho thấy, hoạt động XKLĐ của công ty đến năm 2004 nghiêng mạnh về phía thị trường Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc; thị trường Nhật Bản mặc dù chiếm tỷ trọng rất thấp trong cơ cấu, nhưng đến năm 2004 đã lấy lại được mức tỷ trọng bằng năm 2002, và với tình hình thị trường thì công ty vẫn có nhiều cơ hội tăng tỷ trọng của thị trường này.Về hoạt động cạnh tranh, trong thời gian qua mặc dù các thị trường lớn, rất phù hợp với trình độ của lao động Việt Nam như Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc đã mở rộng cửa đối với Việt Nam rất nhiều; tuy nhiên hoạt động ở các thị trường này ngày càng vất vả và khó khăn. Trước hết là do ý thức tôn trọng hợp đồng của người lao động Việt Nam rất kém, tình trạng phá vỡ hợp đồng giữa và chạy theo những hứa hẹn hảo của các công ty khác ở nước ngoài diễn ra ngày càng nhiều đã làm mất lòng tin của các đối tác đối với người lao động Việt Nam cũng như làm mất uy tín của công ty VILEXIM nói riêng và của các công ty XKLĐ Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó, lao động Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ với trình độ lao động hơn hẳn đã ngày càng chiếm được lòng tin của các công ty ở khu vực thị trường này. Để có được nguồn lao động cung ứng, công ty cũng phải rất tích cực phối hợp với các nhà chức trách địa phương ở địa bàn hoạt động của công ty trong việc tuyên truyền, phổ biến chương trình giải quyết việc làm và xoá đói giảm cùng kiệt của chính phủ thông qua hoạt động xuất khẩu lao động. Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, song công ty cũng như các nhà hoạt động khác còn phải nỗ lực nhiều trong việc tuyên truyền và giáo dục định hướng cho lao động Việt Nam.
II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY
Bộ máy thực hiện chức năng marketing
Đi lên từ một công ty là một đơn vị chức năng của Bộ Thương mại được tổ chức và quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, khi chuyển sang hoạt động trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường, công ty đã gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của lối làm việc trì trệ của cơ chế cũ và nhận thức cũ trước đây về thị trường. Vì vậy, hiện nay công ty bắt đầu nhận thức rõ rằng nếu mọi hoạt động tổ chức kinh doanh của công ty không hướng theo nhu cầu thị trường thì sẽ khó tồn tại được; và các hoạt động marketing của công ty đang ngày càng được chú trọng thực hiện. Điều này thể hiện qua việc công ty đã bổ sung thêm chức năng hoạt động marketing cho phòng tổng hợp, đổi tên phòng cho phù hợp với nhiệm vụ mới là phòng Tổng hợp & Marketing.
Phòng Tổng hợp & Marketing có chức năng là cơ quan tham mưu tổng hợp cho Giám đốc công ty trong đó trực tiếp chịu trách nhiệm về công tác kế hoạch hoá, báo cáo thống kê và phục vụ công tác quản lý – kinh doanh xuất nhập khẩu, dịch vụ trong công ty. Với chức năng này Phòng có nhiệm vụ cụ thể liên quan đến hoạt động marketing như sau:
Tham mưu giúp Giám đốc xây dựng phương hướng chiến lược phát triển các kế hoạch mục tiêu kinh doanh, các đề án, phương án, dự án phát triển ngắn hạn, dài hạn về hoạt động kinh doanh XNK - Dịch vụ, liên doanh, liên kết - hợp tác đầu tư
Giúp Giám đốc xây dựng kế hoạch kinh doanh toàn công ty báo cáo cấp trên xét duyệt theo định kỳ cũng như trong việc tiếp nhận, quản lý, tổ chức, thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch mà cấp trên giao cho Công ty.
Cân đối các yếu tố điều kiện, biện pháp, khả năng… giúp Giám đốc phân giao nhiệm vụ năm – quý – tháng cho các đơn vị một cách hợp lý, sát với tình hình thị trường trong nước và quốc tế.
Thực hiện việc theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch của các đơn vị. Đồng thời phát hiện và tổng hợp các vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị để phản ánh và đề xuất với Giám đốc Công ty các biện pháp giải quyết hiệu quả, kịp thời.
Giúp Giám đốc xây dựng và ban hành hệ thống các báo cáo thống kê kết quả sản xuất kinh doanh nội bộ. Tiếp nhận tổng hợp các báo cáo của các đơn vị để trình giám đốc và cấp trên theo quy định.
Quan hệ chặt chẽ với các ngành cơ quan trung ương và địa phương, các tổ chức hữu quan để thực hiện các hoạt động đối ngoại có liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ chức năng của phòng.
Tổ chức nghiên cứu thị trường, khách hàng, sản phẩm, giá cả…tham gia hội chợ, triển lãm có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Công ty để tham mưu cho Giám đốc Công ty chỉ đạo hoạt động kinh doanh XNK đạt hiệu quả cao.
Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình quảng bá, khuyếch trương hình ảnh của Công ty nhằm tạo dựng, cho công ty một thương hiệu mạnh trên thương trường.
Hoạt động 4P
Sản phẩm
Công ty kinh doanh rất nhiều chủng loại sản phẩm, cung cấp cho nhiều đối tượng khách khác nhau, mà chủ yếu là các tổ chức mua hàng bán lẻ, các công ty sản xuất mua hàng với khối lượng lớn. Tuy nhiên các loại sản phẩm của công ty có thể chia theo lĩnh vực hoạt động của công ty bao gồm xuất nhập khẩu trực tiếp, xuất nhập khẩu uỷ thác và xuất khẩu lao động.
Các sản phẩm mà công ty nhập khẩu trực tiếp từ nước ngoài để tiêu thụ trong nước bao gồm các sản phẩm điện máy như tivi, tủ lạnh, nồi cơm điện, máy bơm nước, máy casset, ….; c