tuanvuanhus
New Member
Download Đề tài Hướng xây dựng mô hình công ty bảo hiểm tương hỗ ở Việt Nam
Sau 10 năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, tăng cường hội nhập quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài kết hợp với việc phát huy các nguồn nội lực, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc cả về chất và lượng, đánh dấu bước chuyển căn bản từ một thị trường độc quyền nhà nước sang một thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực bảo hiểm. Tính đến thời điểm này, thị trường bảo hiểm Việt Nam là một trong những thị trường bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn 1993–2004 đạt khoảng 29%/năm. Nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành công đó là sự ra đời và lớn mạnh không ngừng của các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc nhiều hình thức sở hữu bao gồm: doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-31-de_tai_huong_xay_dung_mo_hinh_cong_ty_bao_hiem_tu
m8XXeX2H8.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-42950/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Điểm khác nhau cơ bản giữa công ty BHTH và công ty bảo hiểm cổ phần là khả năng huy động vốn trên thị trường - đây là vấn đề có ý nghĩa then chốt đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Cũng giống như công ty cổ phần ở các ngành kinh tế khác, nguồn vốn của công ty bảo hiểm cổ phần do các nhà đầu tư đóng góp nhằm thu lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt động đầu tư. Cổ phần của công ty bảo hiểm cổ phần có thể được phát hành rộng rãi ra công chúng hay phát hành hạn chế. Một công ty bảo hiểm cổ phần có thể tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi, đi vay. Ngoài ra, công ty bảo hiểm cổ phần có quyền trả cổ tức cho các cổ đông.
Trái lại, một công ty BHTH không phát hành cổ phiếu và khả năng thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài là rất hạn chế. Do đó, các công ty BHTH gặp nhiều khó khăn hơn so với các công ty bảo hiểm cổ phần trong việc huy động vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, đổi lại, các công ty BHTH lại không phải chịu những biến động trên TTCK và cũng ít có khả năng bị mua lại hay thôn tính bởi các công ty khác như vẫn thường thấy đối với các công ty cổ phần. Về cơ bản, các công ty BHTH phải dựa vào nguồn lợi nhuận tích luỹ và thu nhập phí bảo hiểm từ các thành viên mới để tài trợ cho sự phát triển. Chính vì vậy, theo các chuyên gia, các công ty BHTH có xu hướng chú trọng đến sự ổn định dài hạn thay vỡ chấp nhận rủi ro cao nhằm thu lợi nhuận trước mắt.
Do một trong những chức năng chính của công ty BHTH là cung cấp các sản phẩm bảo hiểm với chi phí thấp, nên tỷ xuất sinh lời và lợi nhuận tính trên vốn đầu tư của các công ty BHTH nói chung cũng thấp hơn so với các công ty bảo hiểm cổ phần. Kết quả là khi các công ty BHTH tìm cách hạ phí bảo hiểm, cạnh tranh về giá sẽ trở nên quyết liệt hơn trên thị trường bảo hiểm. Điều này có lợi cho tất cả những người tham gia bảo hiểm chứ không chỉ người tham gia bảo hiểm của công ty bảo hiểm tương hỗ. Tuy nhiên, cạnh tranh về mức phí bảo hiểm lại đem lại hậu quả bất lợi cho cổ đông của các công ty bảo hiểm cổ phần.
Một số khác biệt cơ bản giữa công ty bảo hiểm tương hỗ và công ty bảo hiểm cổ phần được tóm tắt dưới đây:
So s¸nh công ty b¶o hiÓm cæ phÇn vµ công ty b¶o hiÓm tương hç
Tiêu chí so sánh
Công ty bảo hiểm
cổ phần
Công ty bảo hiểm
tương hỗ
Vốn thành lập
Từ đóng góp của các cổ đông để hình thành Vốn điều lệ
Từ các khoản vay thương mại, vay từ các sáng lập viên, khoản đóng góp của các sáng lập viên để hình thành Quỹ thành lập
Huy động vốn trong quá trình kinh doanh
- Huy động vốn trên thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu…
- Tăng vốn từ tích lũy lợi nhuận
- Không được huy động vốn trên thị trường vốn
- Tăng vốn từ tích lũy lợi nhuận
Mục đích hoạt động
Hoạt động vì lợi nhuận cho các cổ đông
Hoạt động vì lợi ích tham gia bảo hiểm của các thành viên
Quy mô doanh nghiệp
Số lượng khách hàng, doanh thu phí, giá trị tài sản là lớn
Số lượng khách hàng, doanh thu phí, giá trị tài sản nhỏ
Cơ chế quản lý
Thị trường vốn quản lý thông qua thị giá cổ phiếu
Tự quản lý bởi các cán bộ quản lý doanh nghiệp
Đa dạng hoá sản phẩm
Kinh doanh đa dạng hóa nhiều loại hình sản phẩm bảo hiểm
Kinh doanh tập trung vào một số sản phẩm phục vụ lợi ích của các thành viên
Chiến lược kinh doanh
Thường là ngắn hạn để đảm bảo chi trả cổ tức, tăng thị giá cổ phiếu
Thường là dài hạn phục vụ cho quyền lợi của thành viên là bên mua bao hiểm (phí thấp, độ an toàn cao)
Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức cao
Rủi ro đạo đức thấp do bên mua bảo hiểm đồng thời là chủ sở hữu
Quyền biểu quyết
Cổ đông biểu quyết theo tỷ lệ cổ phần nắm giữ
Thành viên biểu quyết theo đầu người hoặc theo số hợp đồng bảo hiểm, số phí bảo hiểm đã nộp, hoặc số tiền bảo hiểm
Cơ chế phân chia lợi nhuận
Lợi nhuận dùng để chia cổ tức cho cổ đông và trích lập các quỹ, tăng vốn
Lợi nhuận chủ yếu để tăng Quỹ thặng dư và giảm phí bảo hiểm
Khả năng bị mua lại
Có thể bị mua lại qua trị trường chứng khoán...
Không bị mua lại
ch¬ng ii
sù cÇn thiÕt ph¶i x©y dùng c«ng ty b¶o hiÓm t¬ng hç ë viÖt nam
vµi nÐt vÒ ho¹t ®éng kinh doanh b¶o hiÓm ë viÖt nam
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 01 năm 1965 và đã phát triển không ngừng theo sự phát triển chung của nền kinh tế. Có thể chia thành hai giai đoạn chủ yếu:
- Từ 1965-1992 là thời kỳ bảo hiểm độc quyền duy nhất chỉ có một công ty bảo hiểm - đó là công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt). Đây cũng là thời kỳ thử nghiệm nên nghiệp vụ chưa nhiều, phí bảo hiểm chưa phản ánh đầy đủ xác suất rủi ro...
- T ừ 1993 trở lại đây - Sau khi có chỉ thị 100/CP của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm ra đời với nhiều hình thức khác nhau: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm ngành, doanh nghiệp cổ phần bảo hiểm, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam sôi động với nhiều công ty thuộc các thành phần kinh tế tham gia; sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty đã xuất hiện; số nghiệp vụ tăng lên không ngừng và sản phẩm bảo hiểm rất đa dạng (sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ...).
Để điều chỉnh hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt Nam, ngày 9 tháng 7 năm 1999, Chính phủ ban hành quyết định số 23/1999/QĐ-BTCCBCP cho phép thành lập Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam. Và ngày 22 tháng 12 năm 2000, Chủ tịch nước đã công bố “Luật kinh doanh bảo hiểm” được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000. Đây là cơ sở pháp lý để hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam ổn định và phát triển đúng hướng, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Sau gần 10 năm mở cửa thị trường, đến nay đã có 26 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt kinh doanh bảo hiểm bao gồm: 5 doanh nghiệp Nhà nước, 7 công ty cổ phần, 6 doanh nghiệp liên doanh và 8 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Bảng 3: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp
Loại hình
doanh nghiệp
Nhà nước
Cổ phần
Liên doanh
100% vốn nước ngoài
Tổng cộng
Bảo hiểm phi nhân thọ
3
4
5
2
14
Bảo hiểm nhân thọ
1
1
3
5
Tái bảo hiểm
1
1
Môi giới bảo hiểm
3
3
6
Tổng cộng
5
7
6
8
26
Ngoài ra sự có mặt của gần 30 văn phòng thay mặt của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam cũng góp phần cải thiện môi trường đầu tư và tăng lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài khi đến làm ăn tại Việt Nam.
Thị trường bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng GDP. Tổng...
Download miễn phí Đề tài Hướng xây dựng mô hình công ty bảo hiểm tương hỗ ở Việt Nam
Sau 10 năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, tăng cường hội nhập quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài kết hợp với việc phát huy các nguồn nội lực, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc cả về chất và lượng, đánh dấu bước chuyển căn bản từ một thị trường độc quyền nhà nước sang một thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực bảo hiểm. Tính đến thời điểm này, thị trường bảo hiểm Việt Nam là một trong những thị trường bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn 1993–2004 đạt khoảng 29%/năm. Nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành công đó là sự ra đời và lớn mạnh không ngừng của các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc nhiều hình thức sở hữu bao gồm: doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-31-de_tai_huong_xay_dung_mo_hinh_cong_ty_bao_hiem_tu
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
u về mặt lý luận cũng như thực tiễn so sánh giữa hai hình thức tổ chức doanh nghiệp bảo hiểm này.Điểm khác nhau cơ bản giữa công ty BHTH và công ty bảo hiểm cổ phần là khả năng huy động vốn trên thị trường - đây là vấn đề có ý nghĩa then chốt đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Cũng giống như công ty cổ phần ở các ngành kinh tế khác, nguồn vốn của công ty bảo hiểm cổ phần do các nhà đầu tư đóng góp nhằm thu lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt động đầu tư. Cổ phần của công ty bảo hiểm cổ phần có thể được phát hành rộng rãi ra công chúng hay phát hành hạn chế. Một công ty bảo hiểm cổ phần có thể tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi, đi vay. Ngoài ra, công ty bảo hiểm cổ phần có quyền trả cổ tức cho các cổ đông.
Trái lại, một công ty BHTH không phát hành cổ phiếu và khả năng thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài là rất hạn chế. Do đó, các công ty BHTH gặp nhiều khó khăn hơn so với các công ty bảo hiểm cổ phần trong việc huy động vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, đổi lại, các công ty BHTH lại không phải chịu những biến động trên TTCK và cũng ít có khả năng bị mua lại hay thôn tính bởi các công ty khác như vẫn thường thấy đối với các công ty cổ phần. Về cơ bản, các công ty BHTH phải dựa vào nguồn lợi nhuận tích luỹ và thu nhập phí bảo hiểm từ các thành viên mới để tài trợ cho sự phát triển. Chính vì vậy, theo các chuyên gia, các công ty BHTH có xu hướng chú trọng đến sự ổn định dài hạn thay vỡ chấp nhận rủi ro cao nhằm thu lợi nhuận trước mắt.
Do một trong những chức năng chính của công ty BHTH là cung cấp các sản phẩm bảo hiểm với chi phí thấp, nên tỷ xuất sinh lời và lợi nhuận tính trên vốn đầu tư của các công ty BHTH nói chung cũng thấp hơn so với các công ty bảo hiểm cổ phần. Kết quả là khi các công ty BHTH tìm cách hạ phí bảo hiểm, cạnh tranh về giá sẽ trở nên quyết liệt hơn trên thị trường bảo hiểm. Điều này có lợi cho tất cả những người tham gia bảo hiểm chứ không chỉ người tham gia bảo hiểm của công ty bảo hiểm tương hỗ. Tuy nhiên, cạnh tranh về mức phí bảo hiểm lại đem lại hậu quả bất lợi cho cổ đông của các công ty bảo hiểm cổ phần.
Một số khác biệt cơ bản giữa công ty bảo hiểm tương hỗ và công ty bảo hiểm cổ phần được tóm tắt dưới đây:
So s¸nh công ty b¶o hiÓm cæ phÇn vµ công ty b¶o hiÓm tương hç
Tiêu chí so sánh
Công ty bảo hiểm
cổ phần
Công ty bảo hiểm
tương hỗ
Vốn thành lập
Từ đóng góp của các cổ đông để hình thành Vốn điều lệ
Từ các khoản vay thương mại, vay từ các sáng lập viên, khoản đóng góp của các sáng lập viên để hình thành Quỹ thành lập
Huy động vốn trong quá trình kinh doanh
- Huy động vốn trên thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu…
- Tăng vốn từ tích lũy lợi nhuận
- Không được huy động vốn trên thị trường vốn
- Tăng vốn từ tích lũy lợi nhuận
Mục đích hoạt động
Hoạt động vì lợi nhuận cho các cổ đông
Hoạt động vì lợi ích tham gia bảo hiểm của các thành viên
Quy mô doanh nghiệp
Số lượng khách hàng, doanh thu phí, giá trị tài sản là lớn
Số lượng khách hàng, doanh thu phí, giá trị tài sản nhỏ
Cơ chế quản lý
Thị trường vốn quản lý thông qua thị giá cổ phiếu
Tự quản lý bởi các cán bộ quản lý doanh nghiệp
Đa dạng hoá sản phẩm
Kinh doanh đa dạng hóa nhiều loại hình sản phẩm bảo hiểm
Kinh doanh tập trung vào một số sản phẩm phục vụ lợi ích của các thành viên
Chiến lược kinh doanh
Thường là ngắn hạn để đảm bảo chi trả cổ tức, tăng thị giá cổ phiếu
Thường là dài hạn phục vụ cho quyền lợi của thành viên là bên mua bao hiểm (phí thấp, độ an toàn cao)
Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức cao
Rủi ro đạo đức thấp do bên mua bảo hiểm đồng thời là chủ sở hữu
Quyền biểu quyết
Cổ đông biểu quyết theo tỷ lệ cổ phần nắm giữ
Thành viên biểu quyết theo đầu người hoặc theo số hợp đồng bảo hiểm, số phí bảo hiểm đã nộp, hoặc số tiền bảo hiểm
Cơ chế phân chia lợi nhuận
Lợi nhuận dùng để chia cổ tức cho cổ đông và trích lập các quỹ, tăng vốn
Lợi nhuận chủ yếu để tăng Quỹ thặng dư và giảm phí bảo hiểm
Khả năng bị mua lại
Có thể bị mua lại qua trị trường chứng khoán...
Không bị mua lại
ch¬ng ii
sù cÇn thiÕt ph¶i x©y dùng c«ng ty b¶o hiÓm t¬ng hç ë viÖt nam
vµi nÐt vÒ ho¹t ®éng kinh doanh b¶o hiÓm ë viÖt nam
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 01 năm 1965 và đã phát triển không ngừng theo sự phát triển chung của nền kinh tế. Có thể chia thành hai giai đoạn chủ yếu:
- Từ 1965-1992 là thời kỳ bảo hiểm độc quyền duy nhất chỉ có một công ty bảo hiểm - đó là công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt). Đây cũng là thời kỳ thử nghiệm nên nghiệp vụ chưa nhiều, phí bảo hiểm chưa phản ánh đầy đủ xác suất rủi ro...
- T ừ 1993 trở lại đây - Sau khi có chỉ thị 100/CP của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm ra đời với nhiều hình thức khác nhau: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm ngành, doanh nghiệp cổ phần bảo hiểm, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam sôi động với nhiều công ty thuộc các thành phần kinh tế tham gia; sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty đã xuất hiện; số nghiệp vụ tăng lên không ngừng và sản phẩm bảo hiểm rất đa dạng (sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ...).
Để điều chỉnh hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt Nam, ngày 9 tháng 7 năm 1999, Chính phủ ban hành quyết định số 23/1999/QĐ-BTCCBCP cho phép thành lập Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam. Và ngày 22 tháng 12 năm 2000, Chủ tịch nước đã công bố “Luật kinh doanh bảo hiểm” được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000. Đây là cơ sở pháp lý để hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam ổn định và phát triển đúng hướng, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Sau gần 10 năm mở cửa thị trường, đến nay đã có 26 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt kinh doanh bảo hiểm bao gồm: 5 doanh nghiệp Nhà nước, 7 công ty cổ phần, 6 doanh nghiệp liên doanh và 8 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Bảng 3: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp
Loại hình
doanh nghiệp
Nhà nước
Cổ phần
Liên doanh
100% vốn nước ngoài
Tổng cộng
Bảo hiểm phi nhân thọ
3
4
5
2
14
Bảo hiểm nhân thọ
1
1
3
5
Tái bảo hiểm
1
1
Môi giới bảo hiểm
3
3
6
Tổng cộng
5
7
6
8
26
Ngoài ra sự có mặt của gần 30 văn phòng thay mặt của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam cũng góp phần cải thiện môi trường đầu tư và tăng lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài khi đến làm ăn tại Việt Nam.
Thị trường bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng GDP. Tổng...