hoahuongduong02j
New Member
Download Đề tài Kiểm soát dòng vốn ở Việt Nam, thách thức và khuyến nghị
Mục lục
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN 4
1.1 Một số nguồn vốn đầu tư nước ngoài 4
1.1.1 Vốn ODA 4
1.1.2 Vốn FDI 5
1.1.3 Vốn FPI 6
1.2 Kiểm soát dòng vốn 7
1.2.1 Khái niệm 7
1.2.2 Mục tiêu 8
1.2.3 Phương pháp 8
1.2.4 Cán cân vốn (Capital Account) 9
1.2.5 Chỉ số CCI và CBFI 9
1.3 Kinh nghiệm về kiểm soát dòng vốn ở một số quốc gia đang phát triển 10
1.3.1 Kinh nghiệm về kiểm soát vốn ở Malaysia: sự kiểm soát khôn ngoan 10
1.3.2 Kinh nghiệm về kiểm soát vốn ở Thái Lan: sự kiểm soát “bồng bột” 11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN GIAI ĐOẠN 1990 – 2010 14
2.1 Sử dụng và kiểm soát ODA 14
2.2 Sử dụng và kiểm soát vốn FDI 17
2.3 Sử dụng và kiểm soát vốn FPI 22
2.4 Một số biện pháp kiểm soát vốn ở Việt Nam 24
2.5 Đánh giá chung 29
2.5.1 Mặt tích cực 29
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 30
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VIỆC KIỂM SOÁT DÒNG VỒN Ở VIỆT NAM 32
3.1 Về cơ chế chính sách 32
3.2 Kiểm soát dòng vốn vào, cấu thành vốn và luân chuyển vốn 33
3.3 Thực hiện tự do hóa dòng vốn ra theo hướng đầu tư trực tiếp và gián tiếp ra nước ngoài 34
3.4 Duy trì quy định kiểm soát ngoại tệ, tăng tính linh hoạt của tỷ giá 36
3.5 Xây dựng chỉ số CCI, CBFI cho Việt Nam theo từng quý, năm 37
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
++ Ai muốn tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho!
Bảng 1.1: Một số chỉ số trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997
Quốc gia
Tỷ giá hối đoái
Thay đổi
GNP
Thay đổi
(So với USD)
(Tỷ USD)
Tháng 06/1997
Tháng 07/1998
Tháng 06/1997
Tháng 07/1998
Thái Lan
24.5
41
40.2%
170
102
40.00%
Indonesia
2,380
14,150
83.2%
205
34
83.40%
Philippin
26.3
42
37.4%
75
47
37.30%
Malaysia
2.5
4.1
39.0%
90
55
38.90%
Hàn Quốc
850
1,290
34.1%
430
283
34.20%
(Nguồn: Wikipedia)
Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007, hiện nay việc kiểm soát vốn đã trở thành phổ biến. Iceland đi đầu vào năm 2008 khi phải vật lộn với khủng hoảng tài chính. Không lâu sau đó, hàng loạt các nước đang phát triển tiếp bước: một số thắt chặt các biện pháp hiện có trong khi số khác đưa ra các biện pháp mới nhằm vào cả dòng vốn vào và dòng vốn ra.
Ví dụ như trong khủng hoảng Trung Quốc điều chỉnh hàng loạt các biện pháp kiểm soát trong khi Indonesia, Đài Loan, Peru, Argentina, Ecuador, Ukraine, Nga và Venezuela cũng đưa ra các biện pháp kiểm soát theo cách này hay cách khác. Chỉ riêng trong tháng 10/2010, Brazil hai lần tăng thuế đánh lên đầu tư nước ngoài vào trái phiếu cho thu nhập cố định trong khi không đánh thuế đầu tư trực tiếp. Các cơ quan điều tiết Hàn Quốc đã bắt đầu kiểm toán các bên cho vay sử dụng các chứng khoán phái sinh gốc ngoại tệ.
Bỏ cmucj này
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN GIAI ĐOẠN 1990 – 2010
Sử dụng và kiểm soát ODA
Nhờ thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, kể từ năm 1993 Việt Nam đã chính thức lập quan hệ ngoại giao và tiếp nhận được nhiều nguồn ODA từ các quốc gia, các tổ chức Quốc tế trên thế giới.
Trong 17 năm qua, Chính phủ đã ban hành 5 nghị định về quản lý sử dụng Vốn ODA, Vốn viện trợ phi Chính phủ nước ngoài (Nghị định 20/CP (1994), Nghị định 87/CP (1997), Nghị định 17/2001/NĐ-CP (2001) và Nghị định 131/2006/NĐ-CP (2006), Nghị định 93/2009/NĐ-CP) .
Trải qua các thời kỳ khác nhau, để đáp ứng thực tiễn cho từng thời kỳ. Chính phủ đã ban hành 2 nghị định cuối nói trên, và vẫn được áp dụng cho đến ngày nay.
Hình thức ODA
ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ;
ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc;
ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hay các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.
cách cơ bản cung cấp ODA
Hỗ trợ dự án;
Hỗ trợ ngành;
Hỗ trợ chương trình;
Hỗ trợ ngân sách.
Cơ chế tài chính trong nước đối với việc sử dụng ODA
Cấp phát từ ngân sách nhà nước;
Cho vay lại từ ngân sách nhà nước;
Cấp phát một phần, cho vay lại một phần từ ngân sách nhà nước.
Giải ngân vốn ODA có tiến bộ, song chưa đủ
Hình 2.1: Biểu đồ cam kết, ký kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993-2008
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Trong thời kỳ 1993-2008, tổng vốn ODA giải ngân đạt khoảng 22,065 tỷ USD, chiếm 52% tổng vốn ODA cam kết và 62,65% tổng vốn ODA ký kết. Có thể nhận thấy trong thời kỳ này tình hình giải ngân vốn ODA có những cải thiện nhất định với chiều hướng tích cực qua các năm. Tuy nhiên, mức giải ngân này vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 và tỷ lệ giải ngân vẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế giới và khu vực đối với một số nhà tài trợ cụ thể.
Cơ cấu vốn ODA 1993-2008
Cơ cấu vốn ODA theo các điều ước quốc tế về ODA đã được ký trong thời kỳ 1993-2008 phù hợp với những định hướng ưu tiên sử dụng vốn ODA theo tinh thần nghị định 131.
Hình 2.2: Biểu đồ cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Nhìn vào biểu đồ có thể thấy rõ cơ cấu vốn ODA tập trung chủ yếu vào ngành Giao thông Vận tải, Bưu chính Viễn thông (28,06%), Năng lượng và Công nghiệp (21,78%). Chỉ riêng 2 ngành này đã chiếm tỷ trọng xấp xỉ 50% nguồn vốn ODA toàn ngành.
Kiểm soát ODA và bất cập
Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA còn có những bất cập, đó là:
- Hệ thống văn bản pháp quy trong nước, đặc biệt giữa ODA và đầu tư công, chưa đồng bộ;
- Quy trình, thủ tục giữa Việt Nam và các nhà tài trợ còn thiếu hài hòa;
- Năng lực cán bộ quản lý và sử dụng ODA ở các cấp, nhất là ở cấp cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng;
- Công tác theo dõi và đánh giá các chương trình và dự án ODA trong bối cảnh phân cấp chưa được các Bộ, ngành và địa phương quan tâm đúng mức. Đây cũng là những nguyên nhân chủ yếu làm cho một số chương trình và dự án ODA chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
2.2 Sử dụng và kiểm soát vốn FDI
Năm 1987, Chính phủ ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã thu hút lượng lớn các thị trường FDI vào nước ta. Từ 1987 đến 1990, vốn FDI vào Việt Nam khá e dè, mang tính thăm dò, chỉ khoảng 1,1 tỷ USD vốn đăng ký,
thực hiện được vài trăm triệu USD.
Giai đoạn 1991-1997 - giai đoạn vàng của lịch sử thu hút FDI tại Việt Nam, các tên tuổi lớn của thế giới đã xuất hiện. Đó là BP, Shell, Total trong ngành dầu khí. Đó là Daewoo, Toyota, Ford… trong lĩnh vực ô tô xe máy. Rồi Sony trong ngành công nghiệp điện tử, Phú Mỹ Hưng trong lĩnh vực bất động sản. Không chỉ vốn đăng ký, mà vốn giải ngân đạt đỉnh vào năm 1997 với 3,115 tỷ USD đã giữ kỷ lục suốt 10 năm sau đó. Tốc độ tăng trưởng đầu tư của khu vực này trong giai đoạn 1991-1995 đạt con số kỷ lục, trung bình 72,37%, đóng góp 30% vào tổng vốn đầu tư xã hội và 40% vào tăng trưởng GDP của Việt Nam. Những kết quả này cũng đã góp phần tạo nên tiền đề để Việt Nam nối lại quan hệ kinh tế với Trung Quốc vào năm 1991, bình thường hoá quan hệ với Mỹ vào năm 1994, gia nhập ASEAN vào 1995, ký Hiệp định khung hợp tác với EU cũng vào năm 1995...
Giai đoạn 1998 – 2006 được gọi là giai đoạn suy thoái của FDI.
Cho đến cuối 2005, Việt Nam đ...
Download Đề tài Kiểm soát dòng vốn ở Việt Nam, thách thức và khuyến nghị miễn phí
Mục lục
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN 4
1.1 Một số nguồn vốn đầu tư nước ngoài 4
1.1.1 Vốn ODA 4
1.1.2 Vốn FDI 5
1.1.3 Vốn FPI 6
1.2 Kiểm soát dòng vốn 7
1.2.1 Khái niệm 7
1.2.2 Mục tiêu 8
1.2.3 Phương pháp 8
1.2.4 Cán cân vốn (Capital Account) 9
1.2.5 Chỉ số CCI và CBFI 9
1.3 Kinh nghiệm về kiểm soát dòng vốn ở một số quốc gia đang phát triển 10
1.3.1 Kinh nghiệm về kiểm soát vốn ở Malaysia: sự kiểm soát khôn ngoan 10
1.3.2 Kinh nghiệm về kiểm soát vốn ở Thái Lan: sự kiểm soát “bồng bột” 11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN GIAI ĐOẠN 1990 – 2010 14
2.1 Sử dụng và kiểm soát ODA 14
2.2 Sử dụng và kiểm soát vốn FDI 17
2.3 Sử dụng và kiểm soát vốn FPI 22
2.4 Một số biện pháp kiểm soát vốn ở Việt Nam 24
2.5 Đánh giá chung 29
2.5.1 Mặt tích cực 29
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 30
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VIỆC KIỂM SOÁT DÒNG VỒN Ở VIỆT NAM 32
3.1 Về cơ chế chính sách 32
3.2 Kiểm soát dòng vốn vào, cấu thành vốn và luân chuyển vốn 33
3.3 Thực hiện tự do hóa dòng vốn ra theo hướng đầu tư trực tiếp và gián tiếp ra nước ngoài 34
3.4 Duy trì quy định kiểm soát ngoại tệ, tăng tính linh hoạt của tỷ giá 36
3.5 Xây dựng chỉ số CCI, CBFI cho Việt Nam theo từng quý, năm 37
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
++ Ai muốn tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho!
Tóm tắt nội dung:
i mức thấp hơn 20% so với thứ 2 và đến cuối phiên chốt 622,14 điểm, giảm 14,8%. 622,14 điểm là mức chốt thấp nhất kể từ 29/10/2004. Mức giảm gần 15% cũng được xem là lớn nhất kể từ 1975. Cú mất điểm này khiến giá trị thị trường chứng khoán Thái Lan sụt 23 tỷ USD. Và Tác nhân chính không gì khác là cơn tháo chạy hoảng loạn của các nhà đầu tư nước ngoài, đẩy giá đồng Bath giảm mạnh. Chính phủ nước này đã nỗ lực cứu vãn khi tung dự trữ ngoại tệ ra thị trường nhưng quá trình rút vốn vẫn không dừng lại. Cuối cùng, khi dự trữ cạn kiệt, Thái Lan buộc phải thả nổi tỷ giá (phá giá đồng tiền). Hậu quả là nền kinh tế lâm vào nợ nần, đình đốn, chính trị - xã hội mất ổn định và phải 2 năm sau, nước này mới hồi phục được.Bảng 1.1: Một số chỉ số trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997
Quốc gia
Tỷ giá hối đoái
Thay đổi
GNP
Thay đổi
(So với USD)
(Tỷ USD)
Tháng 06/1997
Tháng 07/1998
Tháng 06/1997
Tháng 07/1998
Thái Lan
24.5
41
40.2%
170
102
40.00%
Indonesia
2,380
14,150
83.2%
205
34
83.40%
Philippin
26.3
42
37.4%
75
47
37.30%
Malaysia
2.5
4.1
39.0%
90
55
38.90%
Hàn Quốc
850
1,290
34.1%
430
283
34.20%
(Nguồn: Wikipedia)
Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007, hiện nay việc kiểm soát vốn đã trở thành phổ biến. Iceland đi đầu vào năm 2008 khi phải vật lộn với khủng hoảng tài chính. Không lâu sau đó, hàng loạt các nước đang phát triển tiếp bước: một số thắt chặt các biện pháp hiện có trong khi số khác đưa ra các biện pháp mới nhằm vào cả dòng vốn vào và dòng vốn ra.
Ví dụ như trong khủng hoảng Trung Quốc điều chỉnh hàng loạt các biện pháp kiểm soát trong khi Indonesia, Đài Loan, Peru, Argentina, Ecuador, Ukraine, Nga và Venezuela cũng đưa ra các biện pháp kiểm soát theo cách này hay cách khác. Chỉ riêng trong tháng 10/2010, Brazil hai lần tăng thuế đánh lên đầu tư nước ngoài vào trái phiếu cho thu nhập cố định trong khi không đánh thuế đầu tư trực tiếp. Các cơ quan điều tiết Hàn Quốc đã bắt đầu kiểm toán các bên cho vay sử dụng các chứng khoán phái sinh gốc ngoại tệ.
Bỏ cmucj này
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN GIAI ĐOẠN 1990 – 2010
Sử dụng và kiểm soát ODA
Nhờ thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, kể từ năm 1993 Việt Nam đã chính thức lập quan hệ ngoại giao và tiếp nhận được nhiều nguồn ODA từ các quốc gia, các tổ chức Quốc tế trên thế giới.
Trong 17 năm qua, Chính phủ đã ban hành 5 nghị định về quản lý sử dụng Vốn ODA, Vốn viện trợ phi Chính phủ nước ngoài (Nghị định 20/CP (1994), Nghị định 87/CP (1997), Nghị định 17/2001/NĐ-CP (2001) và Nghị định 131/2006/NĐ-CP (2006), Nghị định 93/2009/NĐ-CP) .
Trải qua các thời kỳ khác nhau, để đáp ứng thực tiễn cho từng thời kỳ. Chính phủ đã ban hành 2 nghị định cuối nói trên, và vẫn được áp dụng cho đến ngày nay.
Hình thức ODA
ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ;
ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc;
ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hay các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.
cách cơ bản cung cấp ODA
Hỗ trợ dự án;
Hỗ trợ ngành;
Hỗ trợ chương trình;
Hỗ trợ ngân sách.
Cơ chế tài chính trong nước đối với việc sử dụng ODA
Cấp phát từ ngân sách nhà nước;
Cho vay lại từ ngân sách nhà nước;
Cấp phát một phần, cho vay lại một phần từ ngân sách nhà nước.
Giải ngân vốn ODA có tiến bộ, song chưa đủ
Hình 2.1: Biểu đồ cam kết, ký kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993-2008
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Trong thời kỳ 1993-2008, tổng vốn ODA giải ngân đạt khoảng 22,065 tỷ USD, chiếm 52% tổng vốn ODA cam kết và 62,65% tổng vốn ODA ký kết. Có thể nhận thấy trong thời kỳ này tình hình giải ngân vốn ODA có những cải thiện nhất định với chiều hướng tích cực qua các năm. Tuy nhiên, mức giải ngân này vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 và tỷ lệ giải ngân vẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế giới và khu vực đối với một số nhà tài trợ cụ thể.
Cơ cấu vốn ODA 1993-2008
Cơ cấu vốn ODA theo các điều ước quốc tế về ODA đã được ký trong thời kỳ 1993-2008 phù hợp với những định hướng ưu tiên sử dụng vốn ODA theo tinh thần nghị định 131.
Hình 2.2: Biểu đồ cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Nhìn vào biểu đồ có thể thấy rõ cơ cấu vốn ODA tập trung chủ yếu vào ngành Giao thông Vận tải, Bưu chính Viễn thông (28,06%), Năng lượng và Công nghiệp (21,78%). Chỉ riêng 2 ngành này đã chiếm tỷ trọng xấp xỉ 50% nguồn vốn ODA toàn ngành.
Kiểm soát ODA và bất cập
Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA còn có những bất cập, đó là:
- Hệ thống văn bản pháp quy trong nước, đặc biệt giữa ODA và đầu tư công, chưa đồng bộ;
- Quy trình, thủ tục giữa Việt Nam và các nhà tài trợ còn thiếu hài hòa;
- Năng lực cán bộ quản lý và sử dụng ODA ở các cấp, nhất là ở cấp cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng;
- Công tác theo dõi và đánh giá các chương trình và dự án ODA trong bối cảnh phân cấp chưa được các Bộ, ngành và địa phương quan tâm đúng mức. Đây cũng là những nguyên nhân chủ yếu làm cho một số chương trình và dự án ODA chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
2.2 Sử dụng và kiểm soát vốn FDI
Năm 1987, Chính phủ ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã thu hút lượng lớn các thị trường FDI vào nước ta. Từ 1987 đến 1990, vốn FDI vào Việt Nam khá e dè, mang tính thăm dò, chỉ khoảng 1,1 tỷ USD vốn đăng ký,
thực hiện được vài trăm triệu USD.
Giai đoạn 1991-1997 - giai đoạn vàng của lịch sử thu hút FDI tại Việt Nam, các tên tuổi lớn của thế giới đã xuất hiện. Đó là BP, Shell, Total trong ngành dầu khí. Đó là Daewoo, Toyota, Ford… trong lĩnh vực ô tô xe máy. Rồi Sony trong ngành công nghiệp điện tử, Phú Mỹ Hưng trong lĩnh vực bất động sản. Không chỉ vốn đăng ký, mà vốn giải ngân đạt đỉnh vào năm 1997 với 3,115 tỷ USD đã giữ kỷ lục suốt 10 năm sau đó. Tốc độ tăng trưởng đầu tư của khu vực này trong giai đoạn 1991-1995 đạt con số kỷ lục, trung bình 72,37%, đóng góp 30% vào tổng vốn đầu tư xã hội và 40% vào tăng trưởng GDP của Việt Nam. Những kết quả này cũng đã góp phần tạo nên tiền đề để Việt Nam nối lại quan hệ kinh tế với Trung Quốc vào năm 1991, bình thường hoá quan hệ với Mỹ vào năm 1994, gia nhập ASEAN vào 1995, ký Hiệp định khung hợp tác với EU cũng vào năm 1995...
Giai đoạn 1998 – 2006 được gọi là giai đoạn suy thoái của FDI.
Cho đến cuối 2005, Việt Nam đ...