lisa_litaford
New Member
Download miễn phí Kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay - Một số phân tích và khuyến nghị chính sách
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam
Khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra, giới chuyên môn đã nhận định đặc thù của
cuộc khủng hoảng lần này là nó sẽ tác động tiêu cực mức độ lớn tới các nước phát triển, với ba
trung tâm kinh tế lớn là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu. Các nước đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng,
chủ yếu một cách gián tiếp do nguồn cầu xuất khẩu từ các thị trường lớn bị suy giảm.
Theo Paul Krugman, chuyên gia hàng đầu về kinh tế thế giới, thì cuộc khủng hoảng khiến
sức cầu về hàng lâu bền (tư bản) sẽ suy giảm trước hết ở là Mỹ trong một thời gian mang tính
trung hạn, do đó, các nước có lợi thế sản xuất hàng tư bản sẽ bị ảnh hưởng nặng nề hơn cả.
Hay nói cách khác, chính những nền kinh tế phát triển nhất như Nhật và Đức sẽ chịu hậu quả
lâu dài. Trong khi đó, các nền kinh tế có lợi thế sản xuất hàng tiêu dùng, như Trung Quốc,
Việt Nam và các nước đang phát triển khác, thì hậu quả sẽ ít hơn, và khả năng phục hồi sẽ tới
nhanh hơn.
Điều này hiện đang diễn ra trên thực tế. Từ quý 4-2009, các dấu hiệu hồi phục đã xuất
hiện trên thế giới, trong đó thì Đông Á được đánh giá là vùng có dấu hiệu hồi phục nhanh
nhất trên thế giới. Đây là một lợi thế quan trọng của Việt Nam
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-18-kinh_te_viet_nam_trong_boi_canh_kinh_te_the_gioi_h.rw6e670e8K.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-45787/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
phải sa thải nhâncông. Nhiều TNCs lớn trong ngành sản xuất ô tô như General Motor, Chrysler và Toyota đã phải
đối mặt với nguy cơ phá sản và phải tiến hành tái cơ cấu triệt để.
Tuy nhiên, xét về tổng thể các TNCs lớn không chịu tổn thất nhiều trong đợt khủng hoảng
này. Tổng doanh thu năm 2008 của nhóm 100 TNCs lớn nhất đã tăng 12% so với năm 2007. Lượng
nhân công cũng tăng 4%. Nhưng, do suy giảm trên trên thị trường chứng khoán, nên giá trị tài sản
của các TNCs cũng bị giảm khoảng 0,9% so với năm trước đó (Bảng 1.4). Có một điều đặc biệt là
hầu hết các TNCs trong lĩnh vực khai thác dầu khí như Total, Exxonmobil và BHP không bị tổn
thất trong đợt khủng hoảng này. Mặc dù doanh thu bị sụt giảm đáng kể trong quý 4-2008 và quý
1-2009 các công ty này đã thu được lợi nhuận lớn khi giá dầu tăng trong nửa đầu năm 2008.
Bảng 5. Một số chỉ tiêu cơ bản của 100 TNCs lớn nhất
của các nước đang phát triển, 2006-2007
2006 2007
Các tài sản (tỷ USD)
Nước ngoài
Tổng
% nước ngoài
Doanh thu (tỷ USD)
Nước ngoài
Tổng
% nước ngoài
Lao động
Nước ngoài
Tổng
% nước ngoài
571
1694
34
605
1304
46
2151
5246
41
767
2186
35
737
1617
46
2638
6082
43
Nguồn: UNCTAD, 2009
TNCs ở các nước đang phát triển đã đạt được tốc độ phát triển ấn tượng. Đến năm 2007, đã
có 7 TNCs từ các nước đang phát triển nằm trong số TNCs toàn cầu, so với không có số nào
trong năm 1993. Đông Á là nơi có các TNCs xuất hiện nhiều nhất trong khối các nước đang phát
triển, với 57 TNCs. Đông Nam Á cũng đã có 19 TNCs trong nhóm này (Hình 1.9). Trong năm
2007, tài sản của 100 TNCs lớn nhất của khối này đã tăng 29% so với năm trước đó, so sánh với
Phần II: Các vấn đề kinh tế và kinh doanh13
tài sản của 100 TNCs toàn cầu chỉ tăng 6%. Kết quả là, trong khi tổng tài sản và lao động của 100
TNCs trong lĩnh vực phi tài chính từ các nước đang phát triển chỉ bằng 18% và 34% tổng tài sản
và lao động của 100 TNCs trong lĩnh vực phi tài chính toàn cầu năm 2006, nhưng chỉ sau một
năm, các chỉ số này lần lượt là 20% và 41%.
Hình 9. Phân bổ theo khu vực 100 TNCs lớn nhất
của các nước đang phát triển năm 2008
Nguồn: UNCTAD
Những đặc điểm trên cho các nền kinh tế mới nổi đang ngày càng giữ vị trí quan trọng
hơn trong nền kinh tế toàn cầu. Trong đó, mô hình phát triển sức mạnh kinh tế quốc gia dựa
trên các tập đoàn xuyên quốc gia vẫn là một khuynh hướng chủ đạo.
Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005-2010
Trong giai đoạn 2005-2010, đà tăng trưởng của Việt Nam có dấu hiệu chậm lại trong nửa
đầu của giai đoạn (2005-2007) với những bất ổn vĩ mô bắt đầu tích tụ và bộc lộ. Điển hình là
chính sách kích thích kinh tế thông qua nới lỏng tín dụng bắt nguồn từ những năm đầu thập
niên 2000 để chống lại đà suy giảm tăng trưởng xuất hiện vào năm 1999-2000 đã tích tụ nguyên
nhân gây ra lạm phát cao bắt đầu bộc phát từ giữa năm 2007. Thêm vào đó, việc gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 11-2006 mở ra một thời kỳ hội nhập sâu rộng chưa
từng có, khiến mức giao lưu thương mại và đầu tư quốc tế tăng vọt, dẫn đến những bất ổn do
dòng vốn vào (cả đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp) tăng mạnh, khiến việc kiểm soát vĩ mô trở nên
lúng túng. Cộng với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, trong hai năm 2008-2009, tăng trưởng
kinh tế ở mức thấp đi liền với lạm phát cao (đặc biệt trong 2008), thâm hụt thương mại và thâm
hụt ngân sách đều cao. Năm 2010 được xem là năm bản lề để ổn định kinh tế vĩ mô, khắc phục
các khó khăn sau khủng hoảng và lấy lại đà tăng trưởng cho giai đoạn tiếp theo.
Bảng 6. Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Việt Nam, 2005-2009
Năm 2005 2006 2007 2008 2009
9
19
2
57
4
9
Châu Phi Đông Nam Á Nam Á Đông Á Tây Á Châu Mỹ La tinh
Phần II: Các vấn đề kinh tế và kinh doanh14
Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 8.4 8.2 8.5 6.17 5.32
Tỷ lệ lạm phát (%) 8.3 7.5 8.3 23 6.88
Giá trị sản xuất công nghiệp
(%GDP)
118.12 123.55 128.46 131.74 135.02
Xuất khẩu (%GDP) 69.36 73.61 76.90 78.21 63.42
Thâm hụt thương mại (%GDP) 4.18 4.56 15.85 16.54 9.16
Thâm hụt ngân sách (%GDP) 3.53 3.57 3.37 5.14 7.00
Luồng vốn FDI vào (%GDP) 6.09 6.73 11.31 13.02 11.01
Nguồn: tính toán của nhóm tác giả từ số liệu chính thức
của Tổng cục Thống kê.
Bảng 6 tóm tắt một số chỉ tiêu kinh tế chính trong giai đoạn 2005-2010.
Trong những phần tiếp theo chúng ta sẽ xem xét các mục tiêu của Chính phủ đề ra cho
giai đoạn 2005-2010 và so sánh với thực tế. Tiếp đó, chúng ta xem xét tác động của cuộc khủng
hoảng hiện nay tới nền kinh tế Việt Nam và những vấn đề chính mà nền kinh tế phải đối mặt.
Các mục tiêu đề ra và kết quả thực hiện
Giai đoạn 2005-2010 nằm trong nửa sau của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm
2001-2010 do nghị quyết đại hội Đảng XVIII đề ra. Mục tiêu của giai đoạn này là đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân
dân. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Giữ vững ổn
định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và
an ninh quốc gia. Tiếp tục củng cố và mở rộng các quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của Việt
Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Các mục tiêu kinh tế bao gồm:
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá so sánh gấp hơn 2,1 lần năm 2000.
Tốc độ tăng trưởng GDP 7,5 - 8%/năm, phấn đấu đạt trên 8%/năm. GDP bình quân đầu người
theo giá hiện hành đạt tương đương 1.050 - 1.100 USD.
- Cơ cấu ngành trong GDP: khu vực nông nghiệp khoảng 15 - 16%; công nghiệp và xây
dựng 43 - 44%; dịch vụ 40 - 41%.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng 16%/năm.
- Tỷ lệ huy động GDP hàng năm vào ngân sách đạt 21 - 22%.
- Vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm đạt khoảng 40% GDP.
Các mục tiêu xã hội gồm:
- Tốc độ phát triển dân số khoảng 1,14%.
- Lao động nông nghiệp chiếm dưới 50% lao động xã hội.
- Tạo việc làm cho trên 8 triệu lao động; tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị dưới 5%.
- Tỷ lệ hộ cùng kiệt còn 10 - 11%.
- Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; lao động đã qua đào tạo chiếm 40% tổng
lao động xã hội.
- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi xuống dưới 20%.
Phần II: Các vấn đề kinh tế và kinh doanh15
Căn cứ kết quả thực hiện các năm 2006-2008, ước thực hiện 2009, có thể đưa ra một số
nhận xét như sau:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2005-2010 đạt khoảng 6,9%/năm, không
đạt mục tiêu kế hoạch đặt ra là 7,5-8%/năm, chủ yếu do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính
và suy thoái kinh tế toàn cầu, cũng như những khó khăn trong nước giai đoạn 2008-2010.
- GDP theo giá so sánh dự kiến đến năm 2010 tăng gấp 2 lần năm 2000, không đạt kế
hoạch đề ra là tăng gấp 2,1 lần.
- Trong 3 khu vực, chỉ riêng khu vực công nghiệp và xây dựng không đạt chỉ tiêu tăn...
Tags: bối cảnh kinh tế xã hội việt nam và thế giới hiện nay, kinh tế thế giới và việt nam hiện nay, kinh tế việt nam và kinh tế thế giới hiện nay, phân tích bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới hiện nay, bối cảnh kinh tế việt nam những năm hiẹn nay, bối cảnh thế giới hiện nay và bài học cho việt nam, tóm tắt bối cảnh kinh tế của thế giới hiện nay, kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay?