Download Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của quốc hội, hiệu quả hoạt động giám sát của các cơ quan của quốc hội
Mục lục 3
MỞ ĐẦU 8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI,
CÁC CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI 14
1. Quyền giám sát tối cao của Quốc hội 14
1.1. Khái niệm giám sát 14
1.2. Khái niệm quyền giám sát tối cao của Quốc hội 16
1.3. Phân biệt hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm sát, thanh tra 23
2. Quyền giám sát của các cơ quan của Quốc hội 27
3. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội 32
4. Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát 34
* Kết luận Chương 1 35
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI, CÁC CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI HIỆN NAY
38
1. Quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội 38
1.1. Sự kế thừa và phát triển các quy định về quyền giám sát tối cao của Quốc hội qua các bản Hiến pháp của Việt Nam 38
1.2. Quyền giám sát tối cao của Quốc hội 41
1.3. Quyền giám sát của các cơ quan của Quốc hội 42
2. cách thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, quyền giám sát của các cơ quan của Quốc hội 44
2.1. Xét báo cáo của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, VKSNDTC, các bộ, cơ quan ngang bộ hay các cơ quan, tổ chức hữu quan, thành lập Uỷ ban lâm thời của Quốc hội để điều tra về một vấn đề nhất định 45
2.2. Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật 46
2.3. Giám sát bằng hoạt động kiểm tra thực tế việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở cơ sở, địa phương của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Uỷ ban lâm thời của Quốc hội 47
2.4. Chất vấn của ĐBQH 48
2.5. Giám sát thông qua việc xét đơn thư khiếu nại, kiến nghị của nhân dân, qua các thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng 49
3. Thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội hiện nay 49
3.1. Hoạt động giám sát của Quốc hội 49
3.2. Hoạt động giám sát của UBTVQH 70
3.3. Hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội 78
4. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 84
4.1. Về nguyên nhân khách quan 84
4.2. Nguyên nhân chủ quan 84
* Kết luận Chương 2 87
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CÁC CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI 90
1. Phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hiệu quả hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội 90
1.1. Tính tất yếu khách quan của việc nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hiệu quả hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội 90
1.2. Phương hướng nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội 92
2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội 94
2.1. Đối với hoạt động giám sát của Quốc hội 95
2.2. Đối với hoạt động giám sát của UBTVQH 105
2.3. Đối với hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội 108
2.4. Bảo đảm các điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội 110
2.5. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội 112
* Kết luận Chương 3 114
KẾT LUẬN 116
Danh mục tài liệu tham khảo 119
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
- Kể từ khi chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân các cấp được bãi bỏ, hoạt động giám sát thường xuyên đối với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được trao cho Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội. Thực tiễn đã chứng minh Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội không đủ lực để thực hiện việc giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật do tất cả các cơ quan có thẩm quyền ban hành. Điều kiện về tổ chức bộ máy, năng lực cán bộ (về nghiệp vụ kiểm tra, giám sát văn bản), cơ chế phối hợp trong hoạt động giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước chưa cho phép Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội có thể giám sát việc ban hành cả hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Trong khi đó, số lượng các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành hàng năm là quá lớn.
Chính vì vậy, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh chậm trễ so với yêu cầu đề ra; các văn bản dưới luật khi hướng dẫn thi hành đã quy định không phù hợp với nội dung văn bản gốc; một số văn bản ban hành không đúng thẩm quyền, có những quy định vi phạm quyền công dân... là những hiện tượng đã và đang xảy ra nhưng chưa được các cơ quan của Quốc hội kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý.
3.1.3. Việc thực hiện chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội
Theo quy định tại Điều 98 Hiến pháp năm 1992, Điều 49 Luật tổ chức Quốc hội, khoản 4 Điều 7 và Điều 40 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội thì những người phải trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội bao gồm: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC.
Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn có những chuyển biến đáng kể, thu hút sự quan tâm theo dõi của đông đảo cử tri và nhân dân cả nước. Để tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của mình, Quốc hội đã tiến hành sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm bảo đảm cho ĐBQH thực hiện có hiệu quả hơn quyền chất vấn, tạo cơ sở pháp lý cho việc đề cao trách nhiệm của người trả lời chất vấn. Bên cạnh đó, cơ cấu ĐBQH các khóa gần đây đã được đổi mới theo hướng nâng cao chất lượng và tăng cường số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách. Một việc đổi mới nữa trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn đó là tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa IX, UBTVQH đã cho phát thanh, truyền hình trực tiếp các phiên họp toàn thể của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn. Chính từ điều này đã tạo tiền đề cho sự thay đổi về diện mạo trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn thời gian sau này.
Để đảm bảo cho hoạt động giám sát tối cao, trực tiếp của Quốc hội có hiệu lực, hiệu quả thì quy trình chất vấn, trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội ngày càng có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng. Vai trò, ý nghĩa đó được thể hiện ở những điểm sau:
- Tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn được tiến hành theo một trình tự thống nhất, với những trình tự, thủ tục cụ thể. Tránh sự tùy tiện trong việc sử dụng nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia và hình thức giám sát tối cao, trực tiếp của Quốc hội. Đặc biệt kể từ khi các phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn được phát thanh, truyền hình trực tiếp thì hoạt động này cũng được diễn ra công khai, trước sự chứng kiến của cử tri và nhân dân cả nước. Điều đó đòi hỏi động chất vấn, trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội phải được tuân thủ chặt chẽ bởi các khâu, các bước theo một quy trình nhất định, do chính Quốc hội đặt ra.
- Phản ánh tính nền nếp, kỷ cương, kỷ luật trong sinh hoạt của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Với việc quy định cụ thể trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, nội quy kỳ họp Quốc hội, các chủ thể tham gia hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn có những quyền hạn, nghĩa vụ tương xứng với địa vị pháp lý của mình.
- Tạo tiền đề cho việc xác định trách nhiệm cá nhân của người đúng đầu các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát của Quốc hội; là sự khởi đầu, tiếp nối nay sự kết thúc một nội dung thuộc phạm vi hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội. Tùy vào tính chất, mức độ của vấn đề đang được chất vấn mà Quốc hội có thể quyết định tiếp tục làm rõ tại phiên họp của UBTVQH hay quyết định giao cho một cơ quan của Quốc hội giám sát hay kết thúc việc trả lời chất vấn bằng một Nghị quyết xác định trách nhiệm của người trả lời chất vấn.
- Tác động và phản ánh kỹ năng đối thoại, tranh luận giữa các chủ thể tham gia hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại diễn đàn Quốc hội hay tại phiên họp của UBTVQH. Chính các quy định về quy trình chất vấn và trả lời chất vấn sẽ tạo tiền đề cho các bên nâng cao kỹ năng đối thoại, tranh luận để cùng giải quyết những vấn đề mà Quốc hội và nhân dân quan tâm.
- Hoạt động chất vấn của Quốc hội luôn được đổi mới để nâng cao chất lượng như cải tiến cách thức tiến hành, điều hành phiên chất vấn (người trả lời không đọc văn bản, trả lời chất vấn theo nhóm vấn đề); giảm thời gian chất vấn và thời gian trả lời một cách phù hợp, mời Thủ tướng Chính phủ hay Phó Thủ tướng Chính phủ tham gia trả lời trực tiếp chất vấn của ĐBQH; triển khai tổ chức hoạt động chất vấn tại phiên họp của UBTVQH; ra nghị quyết về hoạt động chất vấn…
- Việc tổng hợp chất vấn, theo dõi việc thực hiện lời hứa của người trả lời chất vấn, thông báo các nội dung có liên quan sau chất vấn… được thực hiện một cách thường xuyên, đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn.
Những thành quả đó góp phần vào việc tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác giám sát của Quốc hội. Thông qua hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, vai trò của Quốc hội đối với công tác giám sát hoạt động của Chính phủ, các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước được thể hiện rõ nét và ngày càng có tác dụng tích cực. Chất vấn và trả lời chất vấn đã trở thành công cụ hữu hiệu của Quốc hội trong hoạt động giám sát, là hình thức sinh hoạt chính trị thường xuyên của Quốc hội tại mỗi kỳ họp, được ĐBQH, cử tri và nhân dân đồng tình ủng hộ và đánh giá cao.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động chất vấn và trả lời chất vẫn còn một số hạn chế, đó là:
- Thủ tục chuẩn bị chất vấn và trả lời chất vấn còn thiếu những quy định cụ thể, chưa thể hiện hết yêu cầu đặt ra cho nội dung hoạt động giám sát này:
+ Chưa có quy định thủ tục kiểm chứng xác nhận phiếu chất vấn đủ điều kiện để chuyển đến người bị chất vấn phải trả lời, để thể hiện trách nhiệm của người chất vấn, b
Download miễn phí Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của quốc hội, hiệu quả hoạt động giám sát của các cơ quan của quốc hội
Mục lục 3
MỞ ĐẦU 8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI,
CÁC CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI 14
1. Quyền giám sát tối cao của Quốc hội 14
1.1. Khái niệm giám sát 14
1.2. Khái niệm quyền giám sát tối cao của Quốc hội 16
1.3. Phân biệt hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm sát, thanh tra 23
2. Quyền giám sát của các cơ quan của Quốc hội 27
3. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội 32
4. Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát 34
* Kết luận Chương 1 35
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI, CÁC CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI HIỆN NAY
38
1. Quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội 38
1.1. Sự kế thừa và phát triển các quy định về quyền giám sát tối cao của Quốc hội qua các bản Hiến pháp của Việt Nam 38
1.2. Quyền giám sát tối cao của Quốc hội 41
1.3. Quyền giám sát của các cơ quan của Quốc hội 42
2. cách thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, quyền giám sát của các cơ quan của Quốc hội 44
2.1. Xét báo cáo của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, VKSNDTC, các bộ, cơ quan ngang bộ hay các cơ quan, tổ chức hữu quan, thành lập Uỷ ban lâm thời của Quốc hội để điều tra về một vấn đề nhất định 45
2.2. Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật 46
2.3. Giám sát bằng hoạt động kiểm tra thực tế việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở cơ sở, địa phương của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Uỷ ban lâm thời của Quốc hội 47
2.4. Chất vấn của ĐBQH 48
2.5. Giám sát thông qua việc xét đơn thư khiếu nại, kiến nghị của nhân dân, qua các thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng 49
3. Thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội hiện nay 49
3.1. Hoạt động giám sát của Quốc hội 49
3.2. Hoạt động giám sát của UBTVQH 70
3.3. Hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội 78
4. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 84
4.1. Về nguyên nhân khách quan 84
4.2. Nguyên nhân chủ quan 84
* Kết luận Chương 2 87
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CÁC CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI 90
1. Phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hiệu quả hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội 90
1.1. Tính tất yếu khách quan của việc nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hiệu quả hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội 90
1.2. Phương hướng nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội 92
2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội 94
2.1. Đối với hoạt động giám sát của Quốc hội 95
2.2. Đối với hoạt động giám sát của UBTVQH 105
2.3. Đối với hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội 108
2.4. Bảo đảm các điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội 110
2.5. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội 112
* Kết luận Chương 3 114
KẾT LUẬN 116
Danh mục tài liệu tham khảo 119
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
và mới tập trung vào tiến độ ban hành, số lượng văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết mà chưa đi sâu vào nội dung cụ thể của từng văn bản.- Kể từ khi chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân các cấp được bãi bỏ, hoạt động giám sát thường xuyên đối với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được trao cho Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội. Thực tiễn đã chứng minh Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội không đủ lực để thực hiện việc giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật do tất cả các cơ quan có thẩm quyền ban hành. Điều kiện về tổ chức bộ máy, năng lực cán bộ (về nghiệp vụ kiểm tra, giám sát văn bản), cơ chế phối hợp trong hoạt động giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước chưa cho phép Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội có thể giám sát việc ban hành cả hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Trong khi đó, số lượng các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành hàng năm là quá lớn.
Chính vì vậy, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh chậm trễ so với yêu cầu đề ra; các văn bản dưới luật khi hướng dẫn thi hành đã quy định không phù hợp với nội dung văn bản gốc; một số văn bản ban hành không đúng thẩm quyền, có những quy định vi phạm quyền công dân... là những hiện tượng đã và đang xảy ra nhưng chưa được các cơ quan của Quốc hội kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý.
3.1.3. Việc thực hiện chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội
Theo quy định tại Điều 98 Hiến pháp năm 1992, Điều 49 Luật tổ chức Quốc hội, khoản 4 Điều 7 và Điều 40 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội thì những người phải trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội bao gồm: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC.
Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn có những chuyển biến đáng kể, thu hút sự quan tâm theo dõi của đông đảo cử tri và nhân dân cả nước. Để tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của mình, Quốc hội đã tiến hành sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm bảo đảm cho ĐBQH thực hiện có hiệu quả hơn quyền chất vấn, tạo cơ sở pháp lý cho việc đề cao trách nhiệm của người trả lời chất vấn. Bên cạnh đó, cơ cấu ĐBQH các khóa gần đây đã được đổi mới theo hướng nâng cao chất lượng và tăng cường số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách. Một việc đổi mới nữa trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn đó là tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa IX, UBTVQH đã cho phát thanh, truyền hình trực tiếp các phiên họp toàn thể của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn. Chính từ điều này đã tạo tiền đề cho sự thay đổi về diện mạo trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn thời gian sau này.
Để đảm bảo cho hoạt động giám sát tối cao, trực tiếp của Quốc hội có hiệu lực, hiệu quả thì quy trình chất vấn, trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội ngày càng có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng. Vai trò, ý nghĩa đó được thể hiện ở những điểm sau:
- Tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn được tiến hành theo một trình tự thống nhất, với những trình tự, thủ tục cụ thể. Tránh sự tùy tiện trong việc sử dụng nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia và hình thức giám sát tối cao, trực tiếp của Quốc hội. Đặc biệt kể từ khi các phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn được phát thanh, truyền hình trực tiếp thì hoạt động này cũng được diễn ra công khai, trước sự chứng kiến của cử tri và nhân dân cả nước. Điều đó đòi hỏi động chất vấn, trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội phải được tuân thủ chặt chẽ bởi các khâu, các bước theo một quy trình nhất định, do chính Quốc hội đặt ra.
- Phản ánh tính nền nếp, kỷ cương, kỷ luật trong sinh hoạt của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Với việc quy định cụ thể trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, nội quy kỳ họp Quốc hội, các chủ thể tham gia hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn có những quyền hạn, nghĩa vụ tương xứng với địa vị pháp lý của mình.
- Tạo tiền đề cho việc xác định trách nhiệm cá nhân của người đúng đầu các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát của Quốc hội; là sự khởi đầu, tiếp nối nay sự kết thúc một nội dung thuộc phạm vi hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội. Tùy vào tính chất, mức độ của vấn đề đang được chất vấn mà Quốc hội có thể quyết định tiếp tục làm rõ tại phiên họp của UBTVQH hay quyết định giao cho một cơ quan của Quốc hội giám sát hay kết thúc việc trả lời chất vấn bằng một Nghị quyết xác định trách nhiệm của người trả lời chất vấn.
- Tác động và phản ánh kỹ năng đối thoại, tranh luận giữa các chủ thể tham gia hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại diễn đàn Quốc hội hay tại phiên họp của UBTVQH. Chính các quy định về quy trình chất vấn và trả lời chất vấn sẽ tạo tiền đề cho các bên nâng cao kỹ năng đối thoại, tranh luận để cùng giải quyết những vấn đề mà Quốc hội và nhân dân quan tâm.
- Hoạt động chất vấn của Quốc hội luôn được đổi mới để nâng cao chất lượng như cải tiến cách thức tiến hành, điều hành phiên chất vấn (người trả lời không đọc văn bản, trả lời chất vấn theo nhóm vấn đề); giảm thời gian chất vấn và thời gian trả lời một cách phù hợp, mời Thủ tướng Chính phủ hay Phó Thủ tướng Chính phủ tham gia trả lời trực tiếp chất vấn của ĐBQH; triển khai tổ chức hoạt động chất vấn tại phiên họp của UBTVQH; ra nghị quyết về hoạt động chất vấn…
- Việc tổng hợp chất vấn, theo dõi việc thực hiện lời hứa của người trả lời chất vấn, thông báo các nội dung có liên quan sau chất vấn… được thực hiện một cách thường xuyên, đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn.
Những thành quả đó góp phần vào việc tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác giám sát của Quốc hội. Thông qua hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, vai trò của Quốc hội đối với công tác giám sát hoạt động của Chính phủ, các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước được thể hiện rõ nét và ngày càng có tác dụng tích cực. Chất vấn và trả lời chất vấn đã trở thành công cụ hữu hiệu của Quốc hội trong hoạt động giám sát, là hình thức sinh hoạt chính trị thường xuyên của Quốc hội tại mỗi kỳ họp, được ĐBQH, cử tri và nhân dân đồng tình ủng hộ và đánh giá cao.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động chất vấn và trả lời chất vẫn còn một số hạn chế, đó là:
- Thủ tục chuẩn bị chất vấn và trả lời chất vấn còn thiếu những quy định cụ thể, chưa thể hiện hết yêu cầu đặt ra cho nội dung hoạt động giám sát này:
+ Chưa có quy định thủ tục kiểm chứng xác nhận phiếu chất vấn đủ điều kiện để chuyển đến người bị chất vấn phải trả lời, để thể hiện trách nhiệm của người chất vấn, b