Ittamar

New Member

Download miễn phí Nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập





“To không phải là tốt”- Đó là câu châm ngôn mà chúng ta vẫn thường gặp trong đời sống
hàng ngày. Câu nói có vẻhài hước này, thực ra lại rất đúng trong tổchức SX-KD công
nghiệp.
Chúng ta đều biết, trong hoạt động SX-KD, mỗi DN đều có một hay vài lĩnh vực hoạt
động chủ đạo, mang tính đặc thù, chuyên biệt. Bên cạnh đó, là một loạt các hoạt động
phụ, mà bản thân DN không thểthực hiện được, nhưng nó lại không thểthiếu đối với dây
chuyền sản xuất chính.
Ví dụvềmối liên hệnày có thểkểra rất nhiều: Một nhà máy dệt vải, ngoài nguyên liệu
chính là sợi phải mua của các nhà máy kéo sợi, họcòn cần dùng đến rất nhiều loại vật
liệu phụkhác nhưbột sắn đểcung cấp cho khâu hồsợi; ống giấy cho cuộn vải; bao tải,
dây đai cho khâu đóng kiện.v.v. chưa kểmột loạt các loại phụkiện khác nhưcon thoi,
go, cua roa, tay đập. bắt buộc phải có, đểduy trì hoạt động cho các máy dệt.



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

chịu. Cần sớm xác
định và tập trung phát triển những loại nông sản có lợi thế so sánh, và xóa bỏ hẳn cách
nghĩ không nên nhập những thứ mà chúng ta có thể sản xuất được, bất kể với mức chi phí
nào, của thời kỳ trước “mở cửa”.
Nói điều đó không có nghĩa là phải xóa sổ các loại cây trồng, vật nuôi nói trên ở nước ta,
mà khi hình thành ý định mở rộng sản xuất ra ngoài các địa bàn truyền thống, bước đi cần
thiết phải làm trước là đầu tư nghiên cứu tạo ra giống mới và quy trình canh tác đảm bảo
sản phẩm thu được có tính cạnh tranh trên thị trường. Đáng tiếc là trình tự ngược lại đã
được áp dụng trong không ít trường hợp, như đã nói ở trên. Chỉ khi nào khoa học - kỹ
thuật đi trước một bước, thì nền nông nghiệp nước ta mới có đủ năng lực cạnh tranh để
phát triển bền vững trong tiến trình hội nhập.
Cần một chính sách hợp lý
Chính sách ruộng đất có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của nền nông nghiệp, nhưng cho
đến nay vẫn có sự giằng co giữa hai quan điểm trái ngược nhau về vấn đề này. Nên chăng
cứ tiếp tục hô hào khẩu hiệu “người cày có ruộng”, được nêu ra trong giai đoạn chống
thực dân phong kiến, mà không nhìn thấy thực tế là ruộng đồng ngày càng bị chia nhỏ,
làm cho sản xuất kém hiệu quả, do khó áp dụng cơ giới hóa đồng bộ hay hạn chế trong
việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật? Cùng trên một cánh đồng, nhưng sản xuất
manh mún, mỗi người làm theo một kiểu, gây trở ngại cho nhau, thì không thể nào đáp
ứng được yêu cầu của thị trường về hàng hóa chất lượng cao, khối lượng lớn, giá cạnh
tranh.
Thử tính thu nhập của một nông hộ với bốn nhân khẩu, có 1 héc ta ruộng. Giả sử ruộng
có thể sản xuất lúa ba vụ, với năng suất cao, bình quân 5 tấn/héc ta/vụ. Từ 15 tấn lúa, bán
với giá 2.300 đồng/ký như hiện nay, nông hộ thu được 34,5 triệu đồng. Với mức lời cao -
30%, thu nhập thực tế của cả gia đình là 10,35 triệu đồng, chia ra mỗi nhân khẩu được
2,5875 triệu đồng/năm hay 215.600 đồng/người/tháng, thấp hơn ngưỡng nghèo. Cho dù
đạt được mức phấn đấu 50 triệu đồng/héc ta đi nữa, thì thu nhập bình quân đầu người
cũng mới chỉ có 312.500 đồng/người/tháng. Với mức thu nhập ít ỏi như vậy, những nông
hộ đó khó có cơ may phát triển và lo cho con cái ăn học chu đáo, chưa nói đến trường
hợp ốm đau hay gặp thiên tai. Vậy mà số nông hộ có diện tích ruộng khoảng 1 héc ta trở
lại ở nước ta đang chiếm một tỷ lệ lớn. Một số nước Tây Âu cũng có chính sách hạn điền,
nhưng thay vì với mức giới hạn trên như ở nước ta, họ chỉ quy định mức giới hạn dưới,
để tránh tình trạng chia ruộng đất quá nhỏ, làm giảm hiệu quả canh tác. Thiết nghĩ đó
cũng là điều đáng cân nhắc đối với đề xuất nới rộng hạn điền, đi đôi với phát triển việc
làm phi nông nghiệp và đào tạo cho nông dân.
Trái ngược với tình trạng thiếu đất sản xuất của nông dân, các nông trường quốc doanh
đang kiểm soát đến 25% diện tích đất nông nghiệp của quốc gia, nhưng sản xuất kém
hiệu quả, chỉ tạo ra 1% GDP (theo TS. Lê Đăng Doanh). Sự bất hợp lý nói trên cần sớm
có giải pháp khắc phục.
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đất hẹp người đông và kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá
lớn của nước ta, dù có chấp nhận mở rộng hạn điền, những nông hộ có diện tích ruộng
vài héc ta trở lại vẫn còn chiếm số đông, ít nhất trong vài thập kỷ tới, do công nghiệp và
dịch vụ chưa phát triển đủ sức thu hút phần lớn lao động nông thôn. Gần đây một số tỉnh,
thành còn chủ trương phát triển nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất nông sản sạch. Điều
đó càng đòi hỏi đẩy nhanh việc tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, để có đủ sức đầu tư cho
việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ mới trên diện rộng.
Tình trạng cùng kiệt khó và thu nhập bấp bênh của số đông nông dân không cho phép cứ
tiếp tục duy trì cách nghĩ, cách làm cũ. Chủ trương phát triển sản xuất nông nghiệp dựa
trên cơ sở nông hộ, một thời đã mang lại hiệu quả trong việc chuyển nước ta từ tình trạng
nhập khẩu lương thực thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, cùng nhiều loại
nông sản khác. Tuy nhiên, đến giai đoạn này, sản xuất nhỏ lẻ lại trở thành cản ngại lớn
cho bước phát triển tiếp theo của nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại
hóa. Thử nghĩ về tình huống sau: Một địa phương có hàng chục ngàn héc ta vườn, cử một
đoàn ra nước ngoài tiếp thị về các loại trái cây. Đối tác nhận thấy chất lượng và giá cả trái
cây có thể chấp nhận được, nên đã cử đoàn sang đàm phán. Khi tìm hiểu kỹ lại, thì chất
lượng trái cây không đồng nhất, khó tập trung số lượng lớn. Hy vọng xuất khẩu tan biến
nhanh chóng. Tiếc thay, đó không phải là tình huống giả định, mà là chuyện đã xảy ra
trong thực tế. Nguyên nhân không khó xác định - sản xuất nhỏ lẻ, phân tán. Do đó, tăng
cường hợp tác hóa thông qua các chính sách và giải pháp thích hợp là vấn đề thiết yếu
cho bước phát triển tiếp theo của nông nghiệp. Phải chăng đó là vấn đề quan trọng nhất,
khi bước vào thời kỳ hậu WTO, gắn liền với việc tổ chức lại sản xuất nông nghiệp?
Trích Thời báo Kinh tế Sài Gòn tháng 06/2006
Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam trước yêu cầu hội nhập
Vũ Xuân Mừng
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ việt Nam trước yêu cầu hội nhập hiện đang đóng một
vai trò quan trọng, biểu hiện ở khả năng thu hút lao động và đóng góp GDP hằng năm
trong nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đó vẫn đang gặp nhiều trở
ngại trong quá trình phát triển do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Để khắc
phục tình trạng này, đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn về phía Nhà nước cũng như các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian tới.
Nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp là biện pháp cơ bản nhất
trong quá tình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với kinh tế toàn cầu. Môi trường đầu tư
kinh doanh hiện nay của Việt Nam đang được cải thiện dần, tạo ra nhiều thuận lợi hơn
cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong và ngoài nước.
Trước xu thế hội nhập kinh tế trong khu vực và toàn cầu, nhìn một cách khách quan, có
thể nói hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam nói chung còn khá yếu,
thể hiện trên nhiều mặt như: chất lượng hoàng hóa chưa cao, chưa đủ đáp ứng cho nhu
cầu và đòi hỏi của thị trường trong nước, khả năng thâm nhập thị trường khu vực và thế
giới còn hạn chế... Mặt khác, do thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản,
trong sản xuất và lưu thông hàng hóa còn lớn nên kéo theo giá thành sản phẩm và dịch vụ
của doanh nghiệp Việt Nam đang luôn cao hơn mức bình quân của khu vực, hiệu quả
kinh doanh thường xuyên thấp, rất khó cạnh tranh với hàng hóa của các nước xung
quanh, đặc biệt càng khó khăn khi cạnh tranh với hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc.
Nguyên nhân gây ra tình trạng trên có nhiều, trong đó có thể nêu lên một vài nguyên
n...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top