Download miễn phí Đề tài Nghiệm thu kết quả giáo dục
Ngay từ đầu năm học, tôi đã đưa ra kế hoạch của mình thảo luận trong ban giám hiệu. Được sự đồng thuận của hiệu trưởng, tôi đã triển khai thực hiện :
- Đề nghị Hiệu trưởng thành lập tổ nghiệp vụ chuyên môn của trường gồm : Hiệu phó chuyên môn ; 5 tổ trưởng chuyên môn thay mặt cho 5 khối; chủ tịch công đoàn; Trưởng ban thanh tra nhân dân; thư ký hội đồng.
- Tổ chức họp hội đồng sư phạm, thông báo cho toàn thể giáo viên biết kế hoạch nghiệm thu kết quả giáo dục vào cuối năm học của nhà trường.
- Tổ chức khảo sát chất lượng đầu năm để nắm rõ tình hình cụ thể học sinh từng lớp về học lực, ý thức đạo đức, hoàn cảnh gia đình
- Làm việc với giáo viên chủ nhiệm về kết quả khảo sát và hướng đi cụ thể cho từng khối lớp.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-29-de_tai_nghiem_thu_ket_qua_giao_duc.g2itqfolpo.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-57570/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
ĐỀ TÀI : NGHIỆM THU KẾT QUẢ GIÁO DỤCPHẦN I : LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lê nin đã từng nói “ Quản lý mà không kiểm tra là không quản lý”.
Kiểm tra là một trong những chức năng cơ bản của quản lý. Đó là công việc- hoạt động nghiệp vụ mà người quản lý ở bất kỳ cấp nào cũng phải thực hiện để biết rõ những kế hoạch, mục tiêu đề ra trên thực tế đã đạt được đến đâu và như thế nào. Từ đó đề ra những biện pháp động viên, giúp đỡ, uốn nắn và điều chỉnh nhằm thúc đẩy các cá nhân và tổ chức phát triển.
Trong lĩnh vực giáo dục, sản phẩm của lao động sư phạm là nhân cách của người học, lao động sư phạm không cho phép có sản phẩm hỏng; vì vậy, công tác kiểm tra- thanh tra trong giáo dục phải diễn ra thường xuyên, liên tục để đảm bảo chất lượng của hoạt động giáo dục.
Tuy nhiên, kiểm tra thế nào để đạt hiệu quả cao nhất lại phải tuỳ từng trường hợp vào tình hình cụ thể của từng trường. Với một trường rất đông giáo viên và học sinh, điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục còn nhiều hạn chế ; trình độ , năng lực sư phạm của giáo viên rất khác nhau đòi hỏi người quản lý phải tìm cho mình một hướng đi mới trong công tác kiểm tra đánh giá.
Thực tế cho thấy, trong một tập thể sư phạm, không phải giáo viên nào cũng hết lòng yêu nghề, yêu trẻ, đem hết khả năng và nhiệt huyết của mình vì học sinh thân yêu. Đó đây vẫn còn có giáo viên đối phó với công tác kiểm tra của cán bộ quản lý về mặt thời gian, hồ sơ sổ sách, còn hiệu quả cuối cùng trong một năm học là các em cần học và học được cái gì lại không được chú trọng nên ảnh hưởng chung đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Vì vậy, ngoài những phương pháp kiểm tra thường xuyên đã làm cần nhìn vào kết quả cuối cùng của học sinh về chất lượng hai mặt giáo dục, về nền nếp tác phong sau một năm học tập mới đánh giá chính xác giáo viên đó đã hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.
Với những lý do trên, cùng hưởng ứng cuộc vận động “ Hai không” của Bộ giáo dục và Đào tạo, từ năm học 2006 – 2007 tui đã cùng với nhà trường thực hiện việc Nghiệm thu kết quả giáo dục.
PHẦN II : MỤC ĐÍCH
PHƯƠNG PHÁP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Mục đích :
Đối với học sinh tiểu học, nhận thức của các em chủ yếu bằng trực quan sinh động nên đòi hỏi người giáo viên phải thật sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Nghiệm thu kết quả giáo dục nhằm giúp giáo viên nhìn nhận đúng trách nhiệm lớn lao của mình trong sự nghiệp “ trồng người”. khi được khảo sát đánh giá khách quan tất cả các mặt hoạt động của giáo viên, học sinh giúp giáo viên nhận ra những ưu điểm và hạn chế của mình để kịp thời điều chỉnh cho những năm học tiếp theo.
2. Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sản phẩm :
* Nghiên cứu hồ sơ sổ sách của giáo viên
* Nghiên cứu bài viết sáng kiến kinh nghiệm, đồ dùng dạy học tự làm.
* Nghiên cứu sản phẩm của học sinh : Các loại vở, bài kiểm tra; …
- Phương pháp trao đổi phỏng vấn.
- Phương pháp quan sát hoạt động thực tiễn.
PHẦN III
NỘI DUNG , BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1.Tình trạng của vấn đề đặt ra và sự cần thiết để tiến hành thực hiện đề tài :
Hoạt động giáo dục có tính kế thừa và ổn định tương đối cao ở cơ sở. Các yếu tố tích cực có thể được truyền từ thế hệ giáo viên, học sinh này sang thế hệ giáo viên , học sinh khác trong một thời gian nhất định mà không cần sự can thiệp của cấp trên. Mặt khác, các hạn chế ,yếu kém cũng có thể được truyền từ năm này sang năm khác, nếu không có biện pháp giải quyết kịp thời, hiệu quả thì sự tích luỹ các yếu kém nhỏ sau một số năm có thể thành yếu kém lớn không thể khắc phục được bằng những biện pháp quen thuộc.
Để giáo dục có hiệu quả đòi hỏi người giáo viên phải yêu nghề, tận tuỵ với nghề, hết lòng giảng dạy và giáo dục học sinh bằng tình thương yêu, sự công bằng và trách nhiệm của một nhà giáo. Tuy nhiên, không phải giáo viên nào cũng thực hiện được điều đó. Một giáo viên có thể hoàn thành tốt mọi yêu cầu về ngày giờ công lên lớp, hồ sơ giáo án, các tiết hội giảng, mượn- trả đồ dùng dạy học hay cả những tiết dự giờ đột xuất… nhưng hiệu quả giáo dục thấp. Đây là một câu hỏi khiến tui rất băn khoăn. Sau một quá trình quản lý tui nhận thấy : việc kiểm tra đánh giá thường xuyên là điều kiện cần nhưng chưa đủ , chỉ có nhìn vào Sản phẩm giáo dục cuối cùng của một năm học mới có thể đánh giá giáo viên đó một cách chính xác, khách quan nhất.
a. Tình hình địa phương :
Cư Pơng là một xã thuộc diện đặc biệt khó khăn của huyện Krông Buk. Nơi đây chủ yếu là đồng bào dân tộc Ê- đê sinh sống, trình độ dân trí thấp, đời sống của nhiều gia đình còn cùng kiệt đói. Họ ít quan tâm đến việc học hành của con em khiến nhà trường gặp không ít khó khăn trong vấn đề giáo dục.
b. Tình hình nhà trường.
Trường Phạm Hồng Thái nằm ở trung tâm xã Cư pơng, có một điểm trường chính và 3 điểm lẻ. năm học 2009- 2010 trường có 33 lớp, 48 cán bộ ,giáo viên, nhân viên. Học sinh dân tộc thiểu số chiếm 77,26 %. Đa số học sinh vào lớp 1 chưa biết hay biết rất ít tiếng Việt nên rất khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức theo chuẩn chung của cả nước. Trình độ dân trí thấp, cùng kiệt đói cùng với việc ít quan tâm của không ít phụ huynh đã khiến cho nhiều học sinh không có động cơ học tập đúng đắn. Việc học sinh nghỉ học, bỏ học ngang chừng vẫn thường xuyên diễn ra.
Trước tình hình đó, đòi hỏi người giáo viên càng phải tận tâm với nghề. Số lớp nhiều, giáo viên đông, lại đứng trước khó khăn như trên càng thôi thúc tui suy nghĩ cần có biện pháp quản lý hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
2. Tính thuyết phục của đề tài :
Ngay từ đầu năm học 2006 -2007, lần đầu tiên thực hiện đề án trên, tui đã nhận được sự hưởng ứng của cả tập thể. Mỗi người đều thấy rõ mình phải làm gì ngay từ đầu năm học, cùng học hỏi, trao đổi kinh nghiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Cũng trong năm học đó và năm học tiếp sau , nhờ nghiệm thu chất lượng thực tế mà tui đã phát hiện ra 2 giáo viên cho 11 học sinh lên lớp sai quy chế. Vì vậy, khi thực hiện đề án này không thể có hiện tượng học sinh ngồi nhầm lớp .
Những giáo viên gương mẫu rất phấn khích vì được đánh giá đúng khả năng và công sức của mình trong cả một năm học. Còn những giáo viên thực hiện chưa tốt đã được chỉ rõ những vấn đề cần sửa đổi trong năm học mới.
Số liệu của 04 năm gần đây
Năm học 2005-2006
Năm học 2006-2007
Năm học 2007-2008
Năm học 2008-2009
Sĩ số bình quân học sinh trên lớp
28,66
27,29
26,64
24,83
Tỷ lệ bỏ học
3,6
7,6
3,8
4,3
Tỉ lệ phần trăm (%) học sinh được lên lớp .
89,86%
85.75 %
82,92%
85,72%
Tỉ lệ phần trăm (%) học sinh đạt danh hiệu học sinh Giỏi.
5,84%
8,47%
6,33%
9,28%
Tỉ lệ phần trăm (%) học sinh đạt danh hiệu học sinh Tiên tiến.
15%
15,5%
11%
9,63%
Học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện,...