Download miễn phí Đồ án Nghiên cứu việc thiết kế Webside và ứng dụng thiết kế chương trình quản lý văn bản pháp luật
Ngày nay mạng máy tính đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sử dụng mạng máy tính con người cùng chia sẻ được mọi tài nguyên của máy. Nó giúp cho con người nắm bắt được thông tin một cách nhanh nhất. Trong lĩnh vực pháp luật là lĩnh vực nhạy cảm liên quan tới mọi lĩnh vực khác của đời sống xã hội thì việc nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng và chính xác có một vai trò quan trọng.Do đó nhu cầu tra cứu thông tin về các văn bản pháp luật trên mạng là một nhu cầu tất yếu phát sinh Với một lượng văn bản pháp luật lớn lên tới hàng vạn văn bản pháp luật liên quan tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì việc quản lý thật không đơn giản. Việc quản lý rất phức tạp và gặp nhiều khó khăn.Hiện nay có rất nhiều công ty có các trang web pháp luật để giới thiệu về công ty mình nhưng chưa có công ty nào có các trang web lưu trữ hệ thống văn bản pháp luật để giúp người sử dụng tra cứu một cách thuận tiện. Khi muốn tra cứu thì người dùng phải mua sách hay tra trên đĩa CD cơ sở dữ liệu pháp luật do văn phòng quốc hội ban hành. Nhưng việc tra cứu gặp khó khăn vì không câp nhật được các văn bản một cách kip thời, trong khi các văn bản do các cơ quan ban hành thì thường xuyên có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình mới. Người sử dụng có khi lại tra cứu một văn bản đã hết hiệu lực pháp luật.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-18-do_an_nghien_cuu_viec_thiet_ke_webside_va_ung_dung.HefEMwHclw.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-55178/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
hương trình giao tiếp thật đơn giản ở chỗ chỉ có một vài kiểu vào ra đơn giản và một số luật cụ thể cộng với các kỹ thuật đặc trưng của mô hình.Khi trình duyệt yêu cầu một trang Web sử dụng chương trình giao tiếp trên Web Server, Web Server truyền thông tin vừa nhận được từ gói tin HTTP yêu cầu của trình duyệt cho chương trình giao tiếp xử lý. Chương trình giao tiếp sau khi xử lý thông tin được yêu cầu nó sẽ trả lại kết quả cho Web Server, Server sẽ định khuôn dạng gói tin theo chuẩn HTTP và truyền trực tiếp cho trình duyệt Web mà không phải thông qua Web Server, cách này làm tốc độ tải trang Web sẽ nhanh hơn.
Trước khi gửi dữ liệu cho Web Server, có thể trình duyệt cũng tiền xử lý dữ liệu trước khi gửi dữ liệu nhằm giảm bớt gánh nặng cho Server. Những ngôn ngữ có khả năng chạy trên trình duyệt gọi là front - end (VBScript, JavaScript...)
5. Xây dựng chương trình giao tiếp
Một chương trình giao tiếp thường có các bước thi hành sau:
Khởi tạo: Truy cập để lấy các thông tin của hệ thống, lấy trong biến môi trường của UNIX hay các hệ thống của Window (file *. ini, *. reg). Sau đó nó sẽ nhận thông tin do Web Server gửi đến.
Xử lý: quá trình này xử lý thông tin nhận được trên một CSDL
Trả kết quả: Sau khi xử lý xong, chương trình gửi lại kết quả cho Web Server. Chương trình kết thúc sau khi trả hết kết quả cho Server.
Có rất nhiều ngôn ngữ được sử dụng để xây dựng chương trình giao tiếp trên các hệ điều hành hiện nay như UNIX, Maintosh, WindowNT, Window 9x... Tuy nhiên chọn một ngôn ngữ để xây dựng chương trình giao tiếp ta nên căn cứ vào các tiêu chuẩn sau:
Có nhiều câu lệnh thao tác với xâu văn bản
Khả năng làm việc với các thư viện và các phần mềm ứng dụng khác
Khả năng truy cập được vào các biến môi trường của chương trình
Các biến môi trường của chương trình giao tiếp (Enviroment variables) các biến môi trường của chương trình giao tiếp bao gồm các biến chứa thông tin về máy chủ, máy khách, người sử dụng và một số thông tin phụ. . Dưới đây là liệt kê một số biến chính sau:
Content - Length: Số byte dữ liệu do gửi đến cho CGI trong STDIN
Content - Type : Kiểu dữ liệu
Logon - User : Tên user login vào mạng
Query - String : Xâu câu hỏi
Gateway - Interface: Cung cấp phiên bản của giao diện
CGI trên Web Server, dạng thức : CGI/ ví dụ CGI/1. 1
Remote - Addr: Địa chỉ IP của máy Client có yêu cầu
Remote - Host : tên máy yêu cầu
Request - Method : cách yêu cầu POST/GET
URL : Uniform Resource Locator
Truy cập Form nhập dữ liệu : trình duyệt cho phép nhập dữ liệu và chọn các kiểu thông tin trên Form, khi nhập xong dữ liệu người sử dụng bấm Submit để gửi thông tin cho Web Server, Web Server có nhiệm vụ truyền các thông tin này cho chương trình giao tiếp tương ứng.
6. Các phương pháp xây dựng chương trình giao tiếp
Có rất nhiều phương pháp nhằm mở rộng Web Server tuy nhiên mô hình hoạt động của chúng đều hoàn toàn tuân theo mô hình vừa trình bày.
CGI (Common Gateway Interface) theo phương pháp CGI thì chương trình ứng dụng CGI này như là một chương trình thực hiện được. Mỗi khi có yêu cầu thực hiện CGI từ khách hàng thì máy chủ đều tạo ra một tiến trình (process) cho chương trình đó và Web Server sẽ truyền thông tin của trình duyệt cho chương trình thông qua các biến môi trường. Như vậy số lượng tiến trình làm việc song song trên máy chủ chính bằng số yêu cầu của khách hàng. Như vậy chương trình CGI sẽ chiếm rất nhiều tài nguyên của hệ thống làm cho chương trình chạy chậm và giảm hiệu quả đồng thời khả năng tương thích với người sử dụng cũng bị hạn chế do việc hỗ trợ ngôn ngữ.
ISAPI (Internet Server Application Programming Interface): Với các chương trình viết theo phương pháp ISAPI thực chất là một thư viện liên kết động được xây dựng sẵn trong hệ điều hành Window. Phương pháp này khắc phục được mặt hạn chế của CGI ở chỗ khi có một yêu cầu mới thì máy chủ không taọ ra một tiến trình mới mà đọc thư viện tại cùng một không gian địa chỉ với Web Server xử lý các yêu cầu khác. Tức là thư viện này được dùng chung cho mọi tiến trình, mỗi khi được gọi vào bộ nhớ thư viện có khả năng phục vụ cho nhiều tiến trình cùng một lúc. Như vậy chương trình sẽ chiếm ít tài nguyên hệ thống làm tăng hiệu lực phục vụ nhiều tiến trình đồng thời. Tuy nhiên yếu điểm của phương pháp này là phải xây dựng một thư viện liên kết động, điều này không phải là dễ. Và phương pháp này chỉ áp dụng trên hệ điều hành Window.
ASP (Active Server Pages): là một môi trường giúp ta sử dụng các ngôn ngữ đặc tả để tạo ra các chương trình giao tiếp cho chức năng động, tương tác và có tính hiệu quả cao cho Web Server. Các ngôn ngữ có thể sử dụng được là VBScript hay JavaScript. Ưu điểm nổi bật của ASP là nó hỗ trợ ngay các ngôn ngữ đặc tả được ứng dụng trong các trang HTML. Tức là trong một file bao gồm cả các thẻ chuẩn HTML đồng thời chứa các câu lệnh của ASP. Khi có một khách hàng yêu cầu một file có chứa chương trình ASP, ASP sẽ đọc nội dung file nếu gặp các thẻ chuẩn của HTML nó sẽ không xử lý nhưng nếu gặp nó các dòng lệnh của ngôn ngữ đặc tả thì nó sẽ xử lý. Sau quá trình xử lý nó sẽ trộn các kết quả vừa xử lý và các dòng lệnh HTML chuẩn để gửi về cho chương trình duyệt như một file HTML bình thường mà bất kỳ một trình duyệt nào cũng hiểu được. Tuy rằng các câu lệnh ASP giống như một ngôn ngữ lập trình nhưng tính cấu trúc của nó lại không cao. Một ưu điểm nổi bật của ASP là nó đã tích hợp sẵn các cách truy cập CSDL và ngôn ngữ SQL trong chương trình. Như vậy đối với người lập trình chỉ cần am hiểu các ngôn ngữ đặc tả thông thường và các khái niệm làm việc với CSDL đều có thể tạo ra được các ứng dụng tốt. Một đặc điểm khác của ASP có thể tích hợp các ngôn ngữ mạnh khác như Java, và cả chương trình CGI trong đó.
Chương 3
Cơ sở dữ liệu và cách truy xuất cơ sở dữ liệu
1. Khái niệm
Cơ sở dữ liệu là một lĩnh vực rất quan trọng của công nghệ thông tin mà nếu thiếu nó nhiều vấn đề đặt ra sẽ khó giải quyết được. Cơ sở dữ liệu được định nghĩa là kho thông tin về một chủ đề, được tổ chức hợp lý để dễ dàng quản lý và truy tìm. Bất kỳ kho thông tin nào đáp ứng được yêu cầu này đều có thể coi là một cơ sở dữ liệu.
2. Quản trị cơ sở dữ liệu là gì ?
Chương trình quản trị cơ sở dữ liệu là một chương trình ứng dụng trên máy tính các công cụ để truy tìm, sửa chữa, xoá và chèn thêm dữ liệu. Các chương trình này cũng có thể dùng để tạo lập một cơ sở dữ liệu và tạo ra các báo cáo, thống kê. Các chương trình quản trị cơ sở dữ liệu liên quan khá thông dụng hiện nay tại Việt Nam là Foxpro, Access cho ứng dụng nhỏ, MSSQL và Oracle cho ứng dụng vừa và lớn.
Quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ là một cách quản lý cơ sở dữ liệu trong đó dữ liệu được lưu trữ trong các bảng dữ liệu hai chiều gồm các cột và các hàng, có thể liên quan với nhau nếu các bảng đó có một cột hay một trường chung nhau.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu là một quá trình xử lý xoay quanh các vấn đề sau đây:
+ Lưu tr