Download miễn phí Tiểu luận Những vấn đề cơ bản của công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta từ trước tới nay





MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I - LÝ LUẬN CHUNG VỀ CNH-HĐH 2
1. Các quan niệm và khái niệm về CNH-HĐH 2
2. Thực chất CNH-HĐH: 3
3. Một số mô hình chiến lược CNH. 4
II/ CNH-HĐH Ở VIỆT NAM. 6
1. Sự cần thiết phải CNH-HĐH ở Việt Nam. 6
2. Nội dung cơ bản của CNH-HĐH ở Việt Nam. 9
3- Những điều kiện kiện cần thiết để thực hiện CNH-HĐH ở nước ta. 13
III/ CNH-HĐH-KINH NGHIỆM THẾ GIỚI. 14
IV/ NHỮNG BIỆN PHÁP CƠ BẢN ĐỂ CNH - HĐH Ở NƯỚC TA. 16
1. Giải quyết vấn đề sở hữu: 16
2. Huy động vốn và sử dụng vốn thì sử dụng vốn có hiệu quả. 17
3. Thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất
và đời sống. 17
4. Trên cơ sở quán triệt quan điểm chiến lược con người, cần có hệ thống
biện pháp đồng bộ về phân bố, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng con người. 17
5. Phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế -xã hội của liên kết kinh tế 17
6. Đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao vai trò của nhà nước đối với sự nghiệp
CNH nhanh và có hiệu qủa. 18
KẾT LUẬN 19
MỤC LỤC 20
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

ĩ năng quản lý cũng như kinh ngiệm thương mại quốc tế ít ỏi. Do đó để thực hiện hướng ngoại, lấy thị trường quốc tế làm trọng tâm, phải phát huy được lợi thế so sánh của đất nước so với nước bạn.
Tư tưởng cơ bản của chiến lược này là phát triển các ngành sản xuất sản phẩm chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu, trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của đất nước.
Thời gian đầu các nước phát triển tập trung vào phát triển các ngành khai thác và sản xuất sản phẩm thô (công nghiệp khai khoáng và nông lâm ngư nghiệp), xuất khẩu sang các nước công nghiệp phát triển nhằm phát huy lợi thế về tài nguyên phong phú, nguồn nhân công dồi dào và rẻ. Mặc dù cũng đã tạo được một số điều kiện phát triển kinh tế nhưng việc tập trung các ngành này lại gặp một số trở ngại: cầu sản phẩm thô trên thị trường quốc tế tăng chậm, điều kiện mậu dịch bất lợi, sự phát triển các ngành này đôi khi phụ thuộc vào sự đầu tư của các nước công nghiệp phát triển. Điều đó cho thấy sự thành công của mô hình chiến lược hướng ngoại phụ thuộc vào một loạt các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ:
+ Chính sách tỉ giá hối đoái linh hoạt bám sát sự biến động của tỉ giá trên thị trường quốc tế và thị trường các nước bạn.
+ Chính sách khuyến khích và trợ giúp xuất khẩu.
+ Chính sách khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài
+ Thành lập và quản lý các khu chế xuất, phát triển tập trung các cơ sở sản xuất, dịch vụ nhằm phục vụ cho xuất khẩu
Mô hình chiến lược này ngày càng có sức hấp dẫn cao với nhiều nước đang phát triển.
3.3- Chiến lược hỗn hợp.
Trong bối cảnh mới, ngoài hai chiến lược nói trên, trên thực tế đã hình thành chiến lược hỗn hợp. chiến lược này được xây dựng trên cơ sở kết hợp các yếu tố của chiến lược hướng nội (coi trọng thị trường trong nước, phát triển sản xuất các sản phẩm mà trong nước có khả năng và sản xuất có hiệu quả)và các yếu tố của chiến lược hướng ngoại (lấy yêu cầu của thị trường quốc tế làm hướng phấn đấu trong phát triển các ngành trong nước. Với mô hình chiến lược này không những khắc phục được yếu điểm của mô hình chiến lược hướng nội và hướng ngoại mà còn điều chỉnh trọng tâm của hai mô hình chiến lược đã nêu trên tránh sự cực đoan trong xác định thị trường và phương hướng phát triển các ngành kinh tế.
II/ CNH-HĐH ở Việt Nam.
1. Sự cần thiết phải CNH-HĐH ở Việt Nam.
1.1-Những đặc điểm chủ yếu nền KT-XH ở Việt Nam
Thực tiễn ở nước ta trong tình hình hiện nay có những vấn đế nổi cộm mà tất yếu phải thực hiện CNH-HĐH:
Là một nước nghèo, tích luỹ tư bản trong nước còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Lãi suất vốn vay chính là giá của vốn. Hiện nay ở Việt Nam mức lãi suất tiền vay hơh 20%/năm cao hơn nhiều so với các nước khác (Đài Loan 9,3%/năm; Cộng Hoà Triều Tiên 10%/năm; Singapore 5,5%/năm; các nước phát triển từ 3đến 5%/năm) đã nói lên tình trạng cầu vượt cung về vốn ở nước ta.
Do chịu hậu qủa nặng nề của 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, nền kinh tế bị tàn phá nghiêm trọng, các trang thiết bị cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng cũng bị phá hoại nặng. Trên thực tế chúng ta vẫn chưa giải quyết dứt điểm những hậu quả ấy: đườngô tô loại 1 chỉ có 9,5% tổng chiều dài, đường loại xấu chiếm 36,4%, mạng lưới viễn thông thiếu nghiêm trọng và thiết bị lỗi thời, ở các địa phương vẫn còn những thiết bị trước năm 1939 với phần lớn thao tác bằng tay...
Nền kinh tế nước ta đã trải qua những thăng trầm tưởng chừng không vượt qua nổi. Thiên tai mất mùa lại thường xuyên xảy ra làm cho đời sống nhân dân thêm khổ cực. Hơn nữa nước ta lại xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nền kinh tế còn nhiều bấp bênh, sản xuất nhỏ kiểu phong kiến tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua giai đoạn TBCN nên không tránh khỏi những trở ngại trong phát triển kinh tế - xã hội.
Trên thế giới, nền kinh tế tư bản đã tạo ra một bước nhảy vọt về KHKT và kinh tế, tổng khối lượng giá trị sản phẩm trong 200 năm phát triển TBCN bằng tổng khối lượng giá trị sản phẩm tạo ra trong 1000 năm của xã hội phong kiến, 6000 năm xã hội chiếm hữu nô lệ và 1 vạn năm của xã hội cộng sản ngyên thuỷ. Đó là một thiệt thòi lớn đối với chúng ta. Nền kinh tế của chúng ta chậm hơn nền kinh tế của các nước tư bản trên thế giới gần 100 năm. Trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ kết cấu hạ tầng và việc ứng dụng thành tựu mới của khoa học vào sản xuất dịch vụ còn thấp kém lạc hậu, hầu hết máy móc thuộc thế hệ 50-60. Chúng ta có một lượng lao động dồi dào, giá rẻ, có tỷ lệ dân số biết chữ khá cao nhưng lại thiếu những nhà kinh tế chuyên sâu, những nhà kinh doanh, những nhà quản lý giỏi.
Do đó chúng ta chỉ có thể thoát khỏi tình trạng trên bằng cách thực hiện quá trình CNH mới tránh khỏi lạc hậu, lạc lõng và lạc điệu trước bước tiến như vũ bão của thế giới.
1.2- Thực trạng CNH-HĐH ở nước ta.
Qua mấy chục năm thực hiện CNH chúng ta đã xây dựng được những cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định. Song thực trạng CNH ở nước ta vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau:
*Các mặt còn hạn chế:
+ Quá trình CNH diễn ra quá chậm.
+ Năng lực sản xuất công nghiệp còn nhỏ bé chưa đủ sức đầu tư phát triển, tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội còn thấp. Năm 1992 tổng giá trị tài sản cố định toàn ngành công nghiệp ước khoảng 3,4 tỷ USD chiếm khoảng 25% giá trị tài sản cố định của toàn bộ nền kinh tế (không kể giá trị đất đai, đường xá), tỷ trọng công nghiệp trong GDP chỉ chiếm 22,6%, nông nghiệp chiếm 34,5% và dịch vụ chiếm 37,9%. Năm 1993 tỷ trọng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ trong GDP tương ứng: 22,7%;30,9%; 40,8%.
+ Ngành công nghiệp vẫn chủ yếu là gia công. Ngoại trừ các sản phẩm tiêu dùng phục vụ trong nước hầu hết các sản phẩm xuất khẩu đều được thực hiện dưới hình thức gia công; các ngành công nghiệp mới như chế tạo ô tô, xe máy, điện tử.. mới chỉ dừng lại ở trình độ lắp ráp GKD, SKD.. trong đó các linh kiện đều do nước ngoài cung cấp. Hơn nữa, ngoài điện, than, xi măng chúng ta vẫn còn phải nhập khẩu 60% sắt thép, 90% hoá chất (thuốc trừ sâu 100%; phân Kali 100%; phân Đạm 98%..).
+ Trình độ công nghiệp vẫn còn ở mức lạc hậu, chắp vá, thiếu đồng bộ. Hầu hết các ngành kinh tế - kỹ thật trình độ thiết bị công nghệ lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ so với trình độ trung bình của thế giới. Đó là hạn chế cơ bản khiến sản xuất công nghiệp của ta tiêu hao nhiều nguyên vật liệu, năng suất lao động thấp mà chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm lại không cao. VD: để sản xuất 1kwh điện chạy than các nước khác dùng 1900 kcal, ta tiêu hao 2700 kcal; hiệu suất nhiệt trong các nhà máy nhiệt diện loại này của họ là 35% ta mới đạt 29%; tổn thất điện của họ từ 12-15%, của ta là 22%..
+ Chưa hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn. Trong giai đoạn 1991-1995, hầu hết các ngành công nghiệp đều có mức tăng trưởng khá, đặc biệt là c
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top