newbies_kid19
New Member
Download miễn phí Luận văn Phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở tỉnh Tiền Giang hiện nay
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở TIỀN GIANG 6
1.1. Công nghiệp chế biến nông sản: Khái niệm và đặc điểm 6
1.2. Vai trò của công nghiệp chế biến nông sản ở Tiền Giang 11
1.2.1. CNCBNS thúc đẩy nền nông nghiệp hàng hóa phát triển 11
1.2.2. CNCB phát triển sẽ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng CNH, HĐH 15
1.2.3. Phát triển CNCBNS góp phần giải quyết vấn đề lao động - việc làm của tỉnh 18
1.2.4. CNCBNS phát triển góp phần quan trọng làm tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo nguồn tích lũy của tỉnh 21
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở Tiền Giang 23
1.3.1. Điều kiện tự nhiên 23
1.3.2. Về lao động 26
1.3.3. Về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội 27
1.3.4. Thị trường tiêu thụ nông sản chế biến 31
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN Ở TIỀN GIANG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN GIẢI QUYẾT 34
2.1. Thực trạng công nghiệp chế biến nông sản ở Tiền Giang 34
2.1.1. Tình hình sản xuất nông sản làm nguyên liệu cho CNCBNS 34
2.1.2. Tình hình hoạt động một số ngành CNCBNS chủ yếu 40
2.1.3. Thực trạng thị trường tiêu thụ nông sản chế biến 47
2.2. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 51
2.2.1. Sự mất cân đối giữa nguồn nguyên liệu với năng lực sản xuất của CNCBNS 51
2.2.2. Sự mất cân đối giữa khối lượng hàng nông sản chế biến với thị trường tiêu thụ 53
2.2.3. Sự mất cân đối giữa yêu cầu phát triển nhanh ngành CNCBNS với sự hạn chế về khả năng thực hiện 55
2.2.4. Sự bất hợp lý trong việc giải quyết lợi ích giữa các khâu sản xuất nguyên liệu - chế biến - tiêu thụ 56
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN Ở TIỀN GIANG 58
3.1. Phương hướng phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở Tiền Giang (đến năm 2010) 58
3.1.1. Phát huy năng lực của các thành phần kinh tế để phát triển CNCBNS 59
3.1.2. Kết hợp các loại quy mô và trình độ trong phát triển CNCBNS 61
3.1.3. Phát triển CNCBNS trên cơ sở cân đối giữa các khâu sản xuất nguyên liệu - chế biến - tiêu thụ sản phẩm 63
3.1.4. Phát triển CNCBNS trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích kinh tế của các chủ thể tham gia sản xuất nguyên liệu - chế biến - tiêu thụ sản phẩm 69
3.2. Một số giải pháp cơ bản để phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở Tiền Giang 71
3.2.1. Tiếp tục xây dựng, mở rộng các vùng tập trung chuyên canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, đảm bảo khối lượng, chất lượng nông sản nguyên liệu cho CNCBNS 71
3.2.2. Tổ chức, sắp xếp lại hệ thống CNCBNS hiện có, đầu tư xây dựng những cơ sở chế biến mới, gắn với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh ĐBSCL 75
3.2.3. Tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng nông sản chế biến cả trong và ngoài nước 79
3.2.4. Giải pháp về các chính sách 81
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-03-13-luan_van_phat_trien_cong_nghiep_che_bien_nong_san.StWd2EBYK8.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-63480/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
Theo thống kê của ngành nông nghiệp, đến ngày 30/12/1998, toàn tỉnh có 4.983 máy kéo, tổng công suất là 109.990 CV. Số máy kéo của Tiền Giang chỉ kém Đồng Tháp (Đồng Tháp có 6.728 chiếc) nhưng quỹ đất lúa của Đồng Tháp lại gấp 2 lần Tiền Giang, do đó bình quân 1 ha đất lúa ở Tiền Giang có 1,04 CV và cứ 21,27 ha đất có 1 máy kéo (trong khi ĐBSCL bình quân là 48,44 ha/máy kéo). Lượng máy kéo tăng rất nhanh: năm 1990 chỉ có 414 chiếc, năm 1995 là 3.620 chiếc, 1998 là 4.983 chiếc, so sánh 1998/1990 tăng 12 lần. Do vậy, khâu làm đất cho lúa đã được cơ giới hóa 95 - 97%. Ngoài ra, máy kéo còn được dùng để vận chuyển vật tư, sản phẩm...Máy tuốt lúa có động lực (mô-tơ điện và động cơ nổ) đến năm 1998, toàn tỉnh có 5.099 chiếc, chiếm 16,6% số máy tuốt lúa ở ĐBSCL, bình quân 20,78 ha/máy (trong khi ĐBSCL bình quân 65 ha/máy). Nhờ vậy, Tiền Giang đã hoàn toàn chủ động về khâu tuốt lúa trong cả các vụ lúa trong năm.
Máy bơm nước có số lượng 81.518 chiếc, thuộc loại cao trong cả nước, chiếm 25,36% tổng số máy bơm nước ở ĐBSCL. Bình quân cứ 2,2 ha đất trồng trọt có 1 máy bơm nước. Nhờ vậy, Tiền Giang hoàn toàn chủ động trong tưới, tiêu cho trồng trọt.
công cụ phun thuốc trừ sâu, bệnh cũng có số lượng cao, hiện nay 90% hộ nông dân có công cụ phun thuốc, chủ động trong phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ cây trồng.
Tóm lại, cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở Tiền Giang tương đối khá, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp phát triển đạt năng suất, sản lượng, chất lượng cao, tạo ra nguồn nguyên liệu dồi dào cho CNCBNS. Vấn đề là phải phát triển CNCBNS tương ứng với sự phát triển của nông nghiệp, có vậy mới nâng cao được hiệu quả của sản xuất nông nghiệp.
2.1.2. Tình hình hoạt động một số ngành CNCBNS chủ yếu
Từ 1990 đến nay, do được xác định là ngành công nghiệp mũi nhọn, được chú trọng đầu tư xây dựng nên CNCBNS của tỉnh đã có bước phát triển khá. Hiện nay, CNCBNS chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp: về giá trị sản xuất công nghiệp chiếm 65,64%; chiếm 50% về số cơ sở và 46,23% về lao động; về tài sản cố định chiếm 54,78% (không kể những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) [34, 18].
CNCBNS ở Tiền Giang đang đi dần vào hướng phát triển ổn định, có chọn lọc gắn chặt với các thế mạnh của tỉnh và nhu cầu của thị trường về chế biến lương thực, trái cây... Theo hướng phát triển đó, nhiều cơ sở chế biến, kể cả các doanh nghiệp tư nhân đã mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị, lắp đặt dây chuyền công nghệ mới, nâng cao chất lượng sản phẩm chế biến, cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, theo đánh giá chung thì trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ còn lạc hậu, bất cập đã làm cho CNCBNS phát triển chưa tương xứng với vai trò là ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh.
Sau đây là thực trạng một số CNCBNS chủ yếu:
2.1.2.1. Xay xát, chế biến gạo
Đây là lĩnh vực được chú trọng đầu tư phát triển của nhiều thành phần kinh tế nên thời gian qua đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng cơ sở xay xát, chế biến. Đến năm 1999, trong tỉnh có 1.214 cơ sở, trong đó có hai công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài (Công ty xay xát - chế biến gạo Việt Nguyên, công suất 40.000 tấn sản phẩm gạo thơm/năm, tổng vốn đầu tư 129,5 tỷ đồng Việt Nam; Công ty xay xát chế biến lương thực xuất khẩu Tam Long, công suất 60.000 tấn sản phẩm/năm, vốn đầu tư 43,012 tỷ đồng Việt Nam). Còn lại 1.212 cơ sở chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân, cá thể với tổng vốn đầu tư 157,47 tỷ đồng Việt Nam. Tổng cộng vốn đầu tư ngành xay xát, chế biến gạo là 330,482 tỷ đồng, tổng công suất khoảng 1.700.000 tấn thóc/năm. Như vậy nếu so với số lượng thóc cần chế biến hàng năm khoảng 1.250.000 thì công suất của các cơ sở chế biến xay xát cao hơn khoảng 490.000 tấn. Do vậy, trên thực tế nhiều cơ sở xay xát, chế biến, lau bóng gạo chưa hoạt động hết công suất (Công ty Việt Nguyên chỉ hoạt động 30% công suất, Tam Long 40% công suất, một số chỉ hoạt động trên dưới 50% công suất) gây lãng phí vốn đầu tư, làm giá thành chế biến cao, giảm sức cạnh tranh trên thị trường.
Trong chế biến gạo, ngoài xay xát còn có công đoạn lau bóng gạo làm tăng chất lượng gạo xuất khẩu. Riêng công đoạn này có tới 44 cơ sở, vốn đầu tư 21,517 tỷ đồng, công suất 264 tấn/giờ, nhưng cũng chỉ hoạt động 70% công suất. Ngoài ra còn có một Công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài chế biến gạo sấy (gạo đỗ) xuất khẩu. Do tính chất đặc thù của sản phẩm nên thị trường còn hạn hẹp, giá xuất khẩu thấp, vốn lưu động thiếu, hoạt động ngày càng khó khăn. Thời gian 1995 - 1997 sản lượng tăng nhanh (1995: 4.408 tấn; 1996: 9.222 tấn, 1997: 16.181 tấn). Nhưng trong năm 1998 sản lượng giảm mạnh, chỉ còn 1.004 tấn. Cơ sở liên doanh này chưa có triển vọng phát triển trong thời gian tới.
Thời gian qua, từ 1991 - 1999, với năng lực xay xát, chế biến như trên, Tiền Giang đã xuất khẩu được 1,7 triệu tấn gạo. Gạo là mặt hàng chủ lực trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu của Tiền Giang.
Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, ngoài hai cơ sở liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài được trang bị máy móc, dây chuyền công nghệ tiên tiến, đồng bộ làm cho sản phẩm qua chế biến đạt yêu cầu chất lượng, thì trong 1.212 cơ sở còn lại đã có đến 705 cơ sở (chiếm 60%) có thiết bị, máy móc cũ, lạc hậu, không đồng bộ, nên chỉ có thể đảm nhận từng khâu trong quá trình chế biến, tỷ lệ hao hụt qua chế biến cao, thu hồi gạo nguyên chỉ đạt 45,46%. Vì vậy, để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thì cần đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ cho các cơ sở chế biến gạo, nhất là các cơ sở chế biến gạo xuất khẩu.
2.1.2.2. Chế biến trái cây
Chế biến trái cây ở Tiền Giang hiện nay chủ yếu là Xí nghiệp Liên hiệp xuất khẩu rau quả Long Định. Đây là doanh nghiệp nhà nước, được đầu tư xây dựng từ hơn 15 năm nay, là cơ sở chế biến trái cây lớn nhất ĐBSCL hiện nay. Sản phẩm chính của nhà máy là trái cây đông lạnh, trái cây đóng hộp (chủ yếu là dứa), nước quả cô đặc. Công suất thiết bị đông lạnh 5.000 tấn sản phẩm/năm, công suất thiết bị trái cây đóng hộp 3.000 tấn sản phẩm/năm, công suất thiết bị nước quả cô đặc và tinh khiết 5.000 tấn/năm (nhưng mới chỉ hoạt động 70% công suất).
Hiện nay, trừ thiết bị chế biến nước quả cô đặc do mới lắp đặt 1997 nên còn mới, công nghệ hiện đại, còn lại thì các thiết bị đông lạnh, đóng hộp đã xuống cấp và lạc hậu. Năm 1998 dây chuyền chế biến trái cây đông lạnh ngừng sản xuất để cải tiến, đổi mới thiết bị, công nghệ. Thiết bị đóng hộp do máy đơn lẻ, không đồng bộ nên năng suất thấp, chất lượng chưa cao, chưa hạ được giá thành sản phẩm.
Tuy vậy, từ 1995 đến nay, sản lượng của nhà máy cũng tăng liên tục. Nước quả cô đặc mới sản xuất từ 1997 nhưng có thị trường tiêu thụ mạnh, sản xuất tăng nhanh, bình quân tăng 134%/năm (từ 1997 đến 1999). Trái cây đóng hộp từ 1.001 tấn năm 1995 t...