kittyphuongnguyen
New Member
Download Luận văn Quá trình công nghiệp hóa ở Malaixia (1957 - 1995) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Malaixia chủ yếu từ các nước tư bản phát triển (Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản). Trong số 26 công ty xuyên quốc gia (TNCs) có trụ sở chi nhánh hay công ty con ở Malaixia thì khoảng 40% các TNCs có xu hướng xuất khẩu và khoảng 60% phục vụ thị trường trong nước trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX [26]. Trong các công ty xuất khẩu, hầu như 100% vốn cổ phần thuộc quyền sở hữu của nước ngoài. Chính quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế ở các nước tư bản phát triển đã dẫn đến hiện tượng một bộ phận công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm được TNCs dịch chuyển dần sang các nước đang phát triển và sau đó xuất khẩu trở lại chính quốc. Trong thập kỷ 70 thế kỷ XX ở Malaixia, TNCs kiểm soát đa số phần vốn của các doanh nghiệp trong các ngành lắp ráp, chế tạo sản phẩm sử dụng nhiều lao động giá rẻ như điện, điện tử, dệt và may mặc quần áo. Đó chính là nguyên nhân làm cho trình độ phát triển kinh tế của Malaixia chỉ ở mức trung bình.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-24-luan_van_qua_trinh_cong_nghiep_hoa_o_malaixia_195.lWWwvusFTL.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-41767/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
- Tỷ trọng giá trị nhập khẩu so với giá trị xuất khẩu của các công ty nước ngoài ở Malaixia có xu hướng tăng lên ngày càng lớn, khoảng 75% của giá trị xuất khẩu. Giai đoạn 1980 - 1985, tỷ trọng này còn cao hơn, thậm chí có năm còn vượt cả giá trị xuất khẩu (1982). Nguyên nhân do các công ty nước ngoài vẫn còn nhập khẩu phần lớn nguyên liệu dưới dạng bán thành phẩm để lắp ráp hàng xuất khẩu và còn do Malaixia nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị để phát triển các ngành công nghiệp nặng trong giai đoạn 1980 - 1985. Bởi vậy, phần giá trị gia tăng trong các sản phẩm xuất khẩu của các công ty nước ngoài và tỷ trọng giá trị gia tăng trong GDP đã giảm xuống. Tình trạng trên cũng diễn ra với các công ty nước ngoài trong khu vực chế tạo.
- Dòng vốn từ Malaixia có xu hướng chạy ra nước ngoài với quy mô lớn do lãi suất và đồng RM giảm giá. Trong giai đoạn 1981 - 1985, thâm hụt tài khoản vãng lai - 8,5% GNP. Năm 1985, nền kinh tế Malaixia lần đầu tiên tăng trưởng - 1% đã rơi vào tình trạng khủng hoảng [17].
- Nhiều mục tiêu kinh tế - xã hội vẫn chưa được giải quyết. Một số vùng, bang bị đói nghèo, nhất là vùng nông thôn và đặc điểm trong cộng đồng người bản địa Malaixia. Việc thành lập cộng đồng kinh doanh người bản địa trong những năm 1980 còn nhiều khó khăn.
2.1.3. Thời kỳ điều chỉnh kinh tế, tiếp tục thúc đẩy công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu (1986 - 1995)
2.1.3.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước
- Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho nền kinh tế các nước tư bản phát triển lâm vào suy thoái. Điều này dẫn đến sự giảm sút trong hoạt động xuất khẩu của Malaixia, đặc biệt là xuất khẩu của khu vực chế tạo. Do vậy, cũng làm giảm sút thu nhập quốc dân, sụt giảm mức cầu tiêu dùng và đầu tư tư nhân.
- Trong thời kỳ trước, khu vực kinh tế Nhà nước ở Malaixia được mở rộng nhưng nhiều doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả. Tình trạng kinh doanh thua lỗ kéo dài của các doanh nghiệp này sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Trước thực tế ấy, Nhà nước có chủ trương thu hẹp khu vực kinh tế Nhà nước thông qua con đường tư nhân hóa và chú trọng nâng cao hiệu quả của khu vực kinh tế Nhà nước.
- Nguồn vốn thực hiện công nghiệp hóa của Malaixia có nhiều hạn chế do sự thâm hụt ngân sách quốc gia. Trong khi ấy, vào cuối những năm 1980, Malaixia đang đứng trước những khó khăn, thách thức trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Thực tế, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ của các nước đang phát triển bùng nổ từ giữa thập kỷ 80 đã buộc các tổ chức tài chính quốc tế và các nước phát triển phải thắt chặt việc cấp tín dụng cho các nước đang phát triển. Trong hoàn cảnh ấy, Malaixia khó có thể vay được các khoản tín dụng nước ngoài như thời gian trước.
Để khắc phục những khó khăn mới nảy sinh, chính phủ Malaixia đã quyết định điều chỉnh lại chiến lược phát triển. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1986 - 1990), chính phủ Malaixia tập trung xem xét lại chiến lược sản xuất hàng xuất khẩu để mở rộng sản xuất; chú trọng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định trên cơ sở tăng tiết kiệm trong nước, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có trong nước; đồng thời Nhà nước coi trọng và khuyến khích hơn nữa sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
- Khi bước sang thập kỷ 90 thế kỷ XX, nền kinh tế Malaixia có những điều kiện thuận lợi cả trong và ngoài nước để mở rộng cơ bản về quy mô sản xuất và xuất khẩu. Đất nước đã vững bước trên con đường công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở hầu khắp mọi nơi là điều kiện để Malaixia tăng cường thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, thu hút đầu tư nước ngoài nhờ chính sách tự do hóa kinh tế ở mức độ cao hơn. Tuy nhiên, đó cũng là thách thức đối với Malaixia trong việc đuổi kịp và nắm bắt những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ của thế giới.
Do vậy, ngày 9/7/1991, Malaixia công bố kế hoạch 5 năm lần thứ sáu (1991 - 1995) nằm trong khuôn khổ "Chính sách phát triển quốc gia (1991 - 2000)". Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, trong công nghiệp hóa chính phủ Malaixia đã đưa ra kế hoạch phát triển tổng thể ngành công nghiệp - IMP (1986 - 1995) với mục tiêu:
+ Đẩy nhanh sự tăng trưởng của ngành công nghiệp chế tạo, đảm bảo tiếp tục mở rộng nhanh chóng nền kinh tế và tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu xã hội của chính sách kinh tế mới.
+ Thúc đẩy các cơ hội sử dụng tối đa và hiệu quả các nguồn lực của quốc gia.
+ Xây dựng nền tảng cho đất nước trước khi bước vào kỷ nguyên thông tin bằng cách tăng cường năng lực công nghệ và tính cạnh tranh của ngành.
Kế hoạch phát triển tổng thể ngành công nghiệp cũng đề ra 12 nhóm ngành công nghiệp then chốt hướng ngoại. Trong đó, 7 ngành công nghiệp dựa trên việc sử dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên: chế biến thực phẩm, cao su, dầu cọ, vật liệu phi kim loại, đồ gỗ, hóa chất và hóa dầu, các sản phẩm kim loại màu và 5 ngành công nghiệp phi nguyên liệu tự nhiên là điện tử, thiết bị điện và vận tải, máy móc và cơ khí, sắt thép và dệt may [17]. Bước sang thập kỷ 90 thế kỷ XX, ngành chế tạo của Malaixia đã phát triển một số ngành công nghiệp mới có công nghệ tiên tiến. Ngành công nghiệp Malaixia thực sự bước sang giai đoạn mới - giai đoạn công nghiệp công nghệ cao. Cho đến kế hoạch 5 năm lần thứ sáu (1991 - 1995), các ngành công nghiệp chủ yếu được chính phủ ưu tiên phát triển công nghệ, vi điện tử, chế tạo ô tô, công nghệ hóa sinh và công nghệ thông tin.
2.1.3.2. Chính sách và giải pháp trong công nghiệp hóa
2.1.3.2.1. Chính sách và giải pháp phát triển công nghiệp
Trong thời gian này, chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu đã được điều chỉnh theo chiều hướng tập trung vào xuất khẩu hàng hóa chế tạo, đặc biệt là hàng điện - điện tử, hàng hóa chế biến từ các sản phẩm nông nghiệp, nhằm mở rộng các cơ hội việc làm, tăng cường mối liên kết giữa các ngành. Tuy nhiên, để phát triển được các ngành công nghiệp như mục tiêu đã đề ra không những...
Download miễn phí Luận văn Quá trình công nghiệp hóa ở Malaixia (1957 - 1995) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Malaixia chủ yếu từ các nước tư bản phát triển (Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản). Trong số 26 công ty xuyên quốc gia (TNCs) có trụ sở chi nhánh hay công ty con ở Malaixia thì khoảng 40% các TNCs có xu hướng xuất khẩu và khoảng 60% phục vụ thị trường trong nước trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX [26]. Trong các công ty xuất khẩu, hầu như 100% vốn cổ phần thuộc quyền sở hữu của nước ngoài. Chính quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế ở các nước tư bản phát triển đã dẫn đến hiện tượng một bộ phận công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm được TNCs dịch chuyển dần sang các nước đang phát triển và sau đó xuất khẩu trở lại chính quốc. Trong thập kỷ 70 thế kỷ XX ở Malaixia, TNCs kiểm soát đa số phần vốn của các doanh nghiệp trong các ngành lắp ráp, chế tạo sản phẩm sử dụng nhiều lao động giá rẻ như điện, điện tử, dệt và may mặc quần áo. Đó chính là nguyên nhân làm cho trình độ phát triển kinh tế của Malaixia chỉ ở mức trung bình.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-24-luan_van_qua_trinh_cong_nghiep_hoa_o_malaixia_195.lWWwvusFTL.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-41767/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung:
Nhật Bản). Trong số 26 công ty xuyên quốc gia (TNCs) có trụ sở chi nhánh hay công ty con ở Malaixia thì khoảng 40% các TNCs có xu hướng xuất khẩu và khoảng 60% phục vụ thị trường trong nước trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX [26]. Trong các công ty xuất khẩu, hầu như 100% vốn cổ phần thuộc quyền sở hữu của nước ngoài. Chính quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế ở các nước tư bản phát triển đã dẫn đến hiện tượng một bộ phận công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm được TNCs dịch chuyển dần sang các nước đang phát triển và sau đó xuất khẩu trở lại chính quốc. Trong thập kỷ 70 thế kỷ XX ở Malaixia, TNCs kiểm soát đa số phần vốn của các doanh nghiệp trong các ngành lắp ráp, chế tạo sản phẩm sử dụng nhiều lao động giá rẻ như điện, điện tử, dệt và may mặc quần áo. Đó chính là nguyên nhân làm cho trình độ phát triển kinh tế của Malaixia chỉ ở mức trung bình.- Tỷ trọng giá trị nhập khẩu so với giá trị xuất khẩu của các công ty nước ngoài ở Malaixia có xu hướng tăng lên ngày càng lớn, khoảng 75% của giá trị xuất khẩu. Giai đoạn 1980 - 1985, tỷ trọng này còn cao hơn, thậm chí có năm còn vượt cả giá trị xuất khẩu (1982). Nguyên nhân do các công ty nước ngoài vẫn còn nhập khẩu phần lớn nguyên liệu dưới dạng bán thành phẩm để lắp ráp hàng xuất khẩu và còn do Malaixia nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị để phát triển các ngành công nghiệp nặng trong giai đoạn 1980 - 1985. Bởi vậy, phần giá trị gia tăng trong các sản phẩm xuất khẩu của các công ty nước ngoài và tỷ trọng giá trị gia tăng trong GDP đã giảm xuống. Tình trạng trên cũng diễn ra với các công ty nước ngoài trong khu vực chế tạo.
- Dòng vốn từ Malaixia có xu hướng chạy ra nước ngoài với quy mô lớn do lãi suất và đồng RM giảm giá. Trong giai đoạn 1981 - 1985, thâm hụt tài khoản vãng lai - 8,5% GNP. Năm 1985, nền kinh tế Malaixia lần đầu tiên tăng trưởng - 1% đã rơi vào tình trạng khủng hoảng [17].
- Nhiều mục tiêu kinh tế - xã hội vẫn chưa được giải quyết. Một số vùng, bang bị đói nghèo, nhất là vùng nông thôn và đặc điểm trong cộng đồng người bản địa Malaixia. Việc thành lập cộng đồng kinh doanh người bản địa trong những năm 1980 còn nhiều khó khăn.
2.1.3. Thời kỳ điều chỉnh kinh tế, tiếp tục thúc đẩy công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu (1986 - 1995)
2.1.3.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước
- Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho nền kinh tế các nước tư bản phát triển lâm vào suy thoái. Điều này dẫn đến sự giảm sút trong hoạt động xuất khẩu của Malaixia, đặc biệt là xuất khẩu của khu vực chế tạo. Do vậy, cũng làm giảm sút thu nhập quốc dân, sụt giảm mức cầu tiêu dùng và đầu tư tư nhân.
- Trong thời kỳ trước, khu vực kinh tế Nhà nước ở Malaixia được mở rộng nhưng nhiều doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả. Tình trạng kinh doanh thua lỗ kéo dài của các doanh nghiệp này sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Trước thực tế ấy, Nhà nước có chủ trương thu hẹp khu vực kinh tế Nhà nước thông qua con đường tư nhân hóa và chú trọng nâng cao hiệu quả của khu vực kinh tế Nhà nước.
- Nguồn vốn thực hiện công nghiệp hóa của Malaixia có nhiều hạn chế do sự thâm hụt ngân sách quốc gia. Trong khi ấy, vào cuối những năm 1980, Malaixia đang đứng trước những khó khăn, thách thức trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Thực tế, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ của các nước đang phát triển bùng nổ từ giữa thập kỷ 80 đã buộc các tổ chức tài chính quốc tế và các nước phát triển phải thắt chặt việc cấp tín dụng cho các nước đang phát triển. Trong hoàn cảnh ấy, Malaixia khó có thể vay được các khoản tín dụng nước ngoài như thời gian trước.
Để khắc phục những khó khăn mới nảy sinh, chính phủ Malaixia đã quyết định điều chỉnh lại chiến lược phát triển. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1986 - 1990), chính phủ Malaixia tập trung xem xét lại chiến lược sản xuất hàng xuất khẩu để mở rộng sản xuất; chú trọng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định trên cơ sở tăng tiết kiệm trong nước, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có trong nước; đồng thời Nhà nước coi trọng và khuyến khích hơn nữa sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
- Khi bước sang thập kỷ 90 thế kỷ XX, nền kinh tế Malaixia có những điều kiện thuận lợi cả trong và ngoài nước để mở rộng cơ bản về quy mô sản xuất và xuất khẩu. Đất nước đã vững bước trên con đường công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở hầu khắp mọi nơi là điều kiện để Malaixia tăng cường thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, thu hút đầu tư nước ngoài nhờ chính sách tự do hóa kinh tế ở mức độ cao hơn. Tuy nhiên, đó cũng là thách thức đối với Malaixia trong việc đuổi kịp và nắm bắt những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ của thế giới.
Do vậy, ngày 9/7/1991, Malaixia công bố kế hoạch 5 năm lần thứ sáu (1991 - 1995) nằm trong khuôn khổ "Chính sách phát triển quốc gia (1991 - 2000)". Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, trong công nghiệp hóa chính phủ Malaixia đã đưa ra kế hoạch phát triển tổng thể ngành công nghiệp - IMP (1986 - 1995) với mục tiêu:
+ Đẩy nhanh sự tăng trưởng của ngành công nghiệp chế tạo, đảm bảo tiếp tục mở rộng nhanh chóng nền kinh tế và tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu xã hội của chính sách kinh tế mới.
+ Thúc đẩy các cơ hội sử dụng tối đa và hiệu quả các nguồn lực của quốc gia.
+ Xây dựng nền tảng cho đất nước trước khi bước vào kỷ nguyên thông tin bằng cách tăng cường năng lực công nghệ và tính cạnh tranh của ngành.
Kế hoạch phát triển tổng thể ngành công nghiệp cũng đề ra 12 nhóm ngành công nghiệp then chốt hướng ngoại. Trong đó, 7 ngành công nghiệp dựa trên việc sử dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên: chế biến thực phẩm, cao su, dầu cọ, vật liệu phi kim loại, đồ gỗ, hóa chất và hóa dầu, các sản phẩm kim loại màu và 5 ngành công nghiệp phi nguyên liệu tự nhiên là điện tử, thiết bị điện và vận tải, máy móc và cơ khí, sắt thép và dệt may [17]. Bước sang thập kỷ 90 thế kỷ XX, ngành chế tạo của Malaixia đã phát triển một số ngành công nghiệp mới có công nghệ tiên tiến. Ngành công nghiệp Malaixia thực sự bước sang giai đoạn mới - giai đoạn công nghiệp công nghệ cao. Cho đến kế hoạch 5 năm lần thứ sáu (1991 - 1995), các ngành công nghiệp chủ yếu được chính phủ ưu tiên phát triển công nghệ, vi điện tử, chế tạo ô tô, công nghệ hóa sinh và công nghệ thông tin.
2.1.3.2. Chính sách và giải pháp trong công nghiệp hóa
2.1.3.2.1. Chính sách và giải pháp phát triển công nghiệp
Trong thời gian này, chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu đã được điều chỉnh theo chiều hướng tập trung vào xuất khẩu hàng hóa chế tạo, đặc biệt là hàng điện - điện tử, hàng hóa chế biến từ các sản phẩm nông nghiệp, nhằm mở rộng các cơ hội việc làm, tăng cường mối liên kết giữa các ngành. Tuy nhiên, để phát triển được các ngành công nghiệp như mục tiêu đã đề ra không những...