Download miễn phí Đề tài Quan hệ giữa công bằng xã hội – phát triển kinh tế ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Thực hiện tăng trưởng kinh tế phải gắn kiền với tiến bộ công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu ở khâu phân phối kết quả sản xuất cũng như ở việc tạo điều kiện phát triển năng lực của toàn thành phần trong cộng đồng. Nhà nước điều tiết qua các sắc thuế thu nhập các cá nhân để giảm bớt chênh lệch thu nhập giữa các tằng lớp dân cư và huy động góp của những người có thu nhập cao vào sự phát triển của xã hội .
Kinh nghiệm các nước và lãnh thổ Đông á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia cho thấy rằng khu vưc nông thôn có vai trò to lớn và biến đổi mạnh mẽ thông qua các biện pháp tăng thu nhập ở nông thôn (giảm đói nghèo và cải thiện phúc lợi xã hội ). Quá trình biến đổi nông thôn liên quan đến 1 loạt yếu tố như tăng năng suất lao động nông nghiệp, đẳy mạnh các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn và phát triển cơ sở hạ tầng đưa thanh niên nông thôn đến những nơi có cơ hội làm việc, cải thiện y tế xây dựng trường học và cung cấp nước sạch.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-18-de_tai_quan_he_giua_cong_bang_xa_hoi_phat_trien.0saMVKVvzd.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-55403/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
c riêng của mình về công bằng xã hội do hoàn cảnh lịch sử của xã hội đó quy định.Trong chế độ xã hội công xã nguyên thuỷ thì công bằng xã hội có nghĩa là mọi người đều tuân theo trật tự đã được cộng đồng thừa nhận, ai vi phạm sẽ bị trừng phạt.
Khi cá nhân tách khỏi thị tộc thì công bằng chủ yếu có nghĩa là mọi người đều bình đẳng trong việc sử dụng các quyền và phương tiện sống.
Khi xuất hiện sở hữu tư nhân thì nội dung của khái niệm công bằng xã hội cũng thay đổi. Sự công bằng ở đây được xem xét trong mối quan hệ với địa vị xã hội. Theo Arixtốt, công bằng là là sự bình đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội. Còn sự bất bình đẳng những người không có cùng địa vị xã hội cũng được Arixtốt coi là công bằng. Quan điểm này Arixtốt thực tế đã trở thành quan điểm chủ đạo trong suốt lịch sử tồn tại của xã hội phân chia giai cấp.
Sự xuất hiện sở hữu tư nhân là tiền đề cho sự xuất hiện nền sản xuất hàng hoá.Khi nền xản xuất hàng hoá ấy xuất hiện và ngày càng phát triển thì sự trao đổi theo nguyên tắc ngang giá cũng ngày càng trở thành nguyên tắc chi phối quan hệ trao đổi trong xã hội. Thích ứng với tình hình ấy, nội dung của khái niệm công bằng cũng thay đổi, đặc biệt là trong chủ nghĩa Tư Bản : về mối quan hệ trao đổi được gọi là công bằng khi chúng thực hiện theo nguyên tắc ngang giá ; còn trong lĩnh vực Chính trị và các quan hệ xã hội khác thì mọi người được tuyên bố là bình đẳng trước Pháp Luật, dĩ nhiên đó là một hệ thống Pháp Luật nhằm bảo vệ trước hết cho giai cấp thống trị đương thời.
Riêng trong CNXH, C.Mác đề cập đến trong tác phẩm “ Phê phán cương lĩnh Gotha ” công bằng xã hội được thể hiện trong nguyên tắc phân phối lao động. C.Mác chỉ rõ rằng trong xã hội XHCN, sau khi đã khấu trừ đi những khoản cần thiết nhất để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như để duy trì đời sống của cộng đồng, toàn bộ số sản phẩm xã hội còn lại sẽ được phân phối theo nguyên tắc: mỗi người sản xuất sẽ nhận trở lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội (sau khi đã khấu trừ số lao động của anh ta cho các quỹ xã hội )
Đây là một nguyên tắc phân phối công bằng vì ở đây tất cả những người sản xuất đều có quyền ngang nhau tham gia vào quỹ tiêu dùng của xã hội khi làm một công việc ngang nhau.
2) Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng. Nhưng không phải tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện 3 nội dung sau :
Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người. Nội dung này phản ánh mức độ tăng trưởng kinh tế của 1 quốc gia trong 1 thời kì nhất định.
Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ thể hiện ở tỷ trọng của ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống. Nội dung này phản ánh chất lượng tăng trưởng, trình độ kĩ thuật của nền sản xuất để có thể đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững.
Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế…mà mỗi người dân được hưởng. Nội dung này phản ánh mặt công bằng xã hội của sự tăng trưởng kinh tế.
Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội
Phát triển kinh tế bao hàm trong nó mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Phát triển kinh tế là điều kiện kiên quyết và cơ bản để giải quyết công bằng xã hội. Công bằng xã hội vừa là mục tiêu để phấn đấu của nhân loại vừa là động lực quan trọng của sự phất triển kinh tế. Mức độ ngày càng cao thì trình độ phát triển, trình độ văn minh của xã hội ngày càng có cơ sở bền vững.
II) Quan hệ đó trong công cuộc đổi mới ở nước ta:
Thực trạng nước ta :
Trong thời kì trước đổi mới ở nước ta, chúng ta đã có cách hiểu không đúng về công bằng xã hội: đồng nhất công bằng với bình đẳng, dẫn đến chính sách bình quân trong phân phối làm triệt tiêu những yếu tố tích cực, năng động của xã hội. Chính sách bình quân thực chất không phải là sự công bằng mà là sự bất công. Chính sự bất công đó tăng dần lên đến mức người lao động thờ ơ với sở hữu xã hội, không quan tâm đến kết quả lao động.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã mang đến những tư duy mới, quan điểm mới về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội . Tất nhiên những quan điểm đó đều bắt nguồn và dựa trên cơ sở đường lối xây dựng CNXH của Đảng Cộng Sản Việt Nam, thể hiện rõ trong cương lĩnh của Đảng. Đại hội Đảng VIII (tháng 6 năm 1996) đề ra quyết tâm tiếp tục nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và Bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá. Mục tiêu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá là biến nước ta thành 1 nước có cơ sở vật chất - kĩ thuật hiện đại. Cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuát tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Công bằng xã hội ở nước ta gắn liền với CNXH , là 1 trong những biểu hiện đặc trưng của CNXH. CNXH ở Việt Nam là sự thống nhất và phát triển biệng chứng giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người.CNXH sẽ tiến tới xoá bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công và mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mọi gia đình và toàn xã hội. Đó là công bằng xã hội lớn nhất, triệt để nhất mà chúng ta phấn đấu vì sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Bằng khẩu hiểu đó Đảng và Nhà Nước phấn đấu để người cùng kiệt thì đủ ăn, người đủ ăn thì trở nên khá giả, người khá giả trở nên giàu có. Chúng ta thừa nhận có 1 số bộ phận dân cư giàu lên trước, 1 số vùng giàu lên trước là điều cần thiết, để thúc đẩy cho sự phất triển và tiến bộ chung. Đồng thời cũng phải có những chính sách kinh tế, xã hội đặc biệt để trợ giúp người nghèo, vùng cùng kiệt khá dần lên.
Hiện nay , ở nước ta có tình trạng là những vùng nông thôn có nhiếu gia đình chính sách có đóng góp cho kháng chiến và cho Cách mạng thì thì thu nhập và đời sống của vùng đó khó khăn hơn, cùng kiệt hơn các vùng khác, địa phương khác. Trong những năm chuyển sang kinh tế thị trường chưa có chính sách phù hợp để giải quyết vấn đề đó thực tế cho thấy chúng ta chưa thực hiện được sự công bằng và hưởng thụ giữa các vùng nông thôn với nhau, giữa nông thôn với thành phố. Hàng loạt chính sách kinh tế xã hội, nhất là chính sách phát triển giáo dục nông thôn còn nhiều bất hợp lý, con...