Download Đề tài Quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía bắc

Download miễn phí Đề tài Quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía bắc





Vùng KTTĐPB tuy có tỷ lệ đô thị hoá nhanh, tốc độ đạt khoảng 5%/năm, nhưng còn mang nặng tính tự phát, chưa gắn chặt với việc phát triển công nghiệp và dịch vụ; một số trường hợp do mong muốn phát triển nhanh, mở rộng và nâng cấp đô thị nên đã thúc đẩy quá trình mở rộng các đô thị bằng việc nâng cấp hành chính từ xã thành phường, gây tình trạng xáo trộn quá nhanh, thu hút nhiều vốn cho xây dựng kết cấu hạ tầng và làm cho công tác quản lý đô thị không theo kịp, công tác quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch không đáp ứng yêu cầu phát triển nên góp phần làm cho thị trường bất động sản thiếu ổn định, môi trường bị ô nhiễm, kết cấu hạ tầng còn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển,. Trong quá trình đô thị hoá đã tạo ra một số lượng lớn người dân từ nông thôn vào thành thị làm việc và sinh sống. Theo kết quả điều tra dân số, toàn vùng KTTĐPB có tới hơn 25 – 27 vạn người hiện đang sống ở các đô thị nhưng không có hộ khẩu thường trú và có tới chục vạn người từ nông thôn ra đô thị làm việc thường xuyên. Số lao động của các tỉnh thu hút về Hà Nội tăng từ khoảng 1,4 vạn năm 1988 lên khoảng 17 – 20 vạn người năm 2002. Tình trạng này đã gây khó khăn về nhà ở, dịch vụ công cộng và quản lý đô thị ở các thành phố.



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

hơn được khoảng 1 – 1,5%. Vùng KTTĐPB bước đầu đã phát huy được một số lợi thế so sánh, phát triển vượt trội và có tác động thúc đẩy cả vùng Đồng bằng sông Hồng cùng phát triển.
(4) Kết cấu hạ tầng được cải thiện đáng kể, tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh
Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chiếm tỷ trọng lớn (trong thời kỳ 1995 – 2002 chiếm khoảng 43,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội) đã tập trung vào một số công trình then chốt, tạo ra những điều kiện thuận lợi khai thác tiềm năng của vùng.
Về hệ thống đường bộ: quốc lộ 1A là tuyến chiến lược quan trọng đã hoàn thành việc khôi phục, cải tạo nâng cấp từ Lạng Sơn về Hà Nội đi Ninh Bình đến Thanh Hoá, đạt tiêu chuẩn cấp III; quốc lộ 18, từ Bắc Ninh đi Bãi Cháy đã hoàn thành cơ bản việc nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp III. Đoạn Bãi Cháy – Mông Dương – Móng Cái đang triển khai nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp IV; việc nâng cấp quốc lộ 10 hoàn thành; đường Láng - Hoà Lạc hoàn thành giai đoạn I đạt tiêu chuẩn cấp I. Đã xây dựng mới các cầu như cầu Bình, Triều Dương, Tân Đệ, Tiên Cựu; đang xây dựng cầu Yên Lệnh, Thanh Trì, Bãi Cháy...; Các quốc lộ khác như 2B, 38, 39, 183, 12B, 21, 21B và 23 cũng được cải tạo. Giao thông nông thôn được phát triển khá mạnh (cải tạo khoảng 300 km, làm mới khoảng 150 km).
Về hệ thống các sân bay: trong vùng có 3 sân bay hiện đang khai thác là sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay Cát Bi và sân bay Gia Lâm.
Sân bay Nội Bài đã được đầu tư đạt công suất 4 triệu hành khách/năm, có điều kiện mở rộng để đạt 6 triệu hành khách/năm.
Sân bay Cát Bi đang là sân bay nội địa hiện đảm nhận vai trò dự bị cho sân bay Nội Bài; dự kiến sẽ kéo dài đường hạ - cất cánh đạt khoảng 2800 mét dài, mở rộng nhà ga từ 4000 m2 lên 6000 m2; quy hoạch mở thêm đường bay khu vực và hướng tới xây dựng Cát Bi thành sân bay quốc tế.
Sân bay Gia Lâm chủ yếu phục vụ quân sự và dịch vụ trực thăng.
Về hệ thống cảng biển: đã mở rộng cảng Hải Phòng, đến năm 2002 thực tế hàng hoá thông qua cảng đã đạt 11,4 triệu tấn; cảng Cái Lân hiện đầu tư giai đoạn I đạt 1,1 triệu tấn. Đã hình thành đội tầu biển có tổng trọng tải trên 50 vạn DWT, thực hiện vận tải trên 2,4 triệu tấn (so với cả nước chiếm tỷ trọng gần 50% về phương tiện và 40% về khối lượng).
Về mạng lưới đường sắt: các tuyến đường sắt: Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Lạng Sơn, Hà Nội – Thái Nguyên và Hà Nội – Vinh đã được nâng cấp; hệ thống đường ray, tà vẹt đã được thay mới; các đường ngang, cầu, thông tin tín hiệu đã được sửa chữa đảm bảo an toàn chạy tàu.
Về mạng lưới đường sông: trong những năm qua đường sông đã được đầu tư và quản lý, khai thác tốt hơn (trong đó có tuyến Đáy – Ninh Phúc; tuyến Lạch Giang – Hà Nội; tuyến Quảng Ninh – Phả Lại – Việt Trì; tuyến Quảng Ninh – Hải Phòng – Ninh Bình). Các cảng sông đã được nâng cấp để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, rõ nhất là cụm cảng Hà Nội, Ninh Phúc, Việt Trì.
Mạng bưu chính, viễn thông: Mạng lưới bưu chính viễn thông vùng KTTĐPB được chú trọng đầu tư, phát triển nhanh, rộng khắp đến hầu hết các xã với công nghệ, kỹ thuật số hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin, phục vụ các ngành kinh tế - xã hội phát triển, góp phần nâng cao dân trí, đảm bảo an ninh quốc phòng. Đến năm 2002, mật độ điện thoại bình quân của vùng đạt 10,03 máy/100 dân (bình quân cả nước 6,9 máy/100 dân).
Mạng lưới điện đã được phát triển đến các xã, phường trên lãnh thổ toàn vùng.
Hệ thống cung cấp nước sạch đã được nâng cấp, mở rộng ở các thành phố, thị xã. Trong vùng KTTĐPB đã có các nhà máy nước với tổng công suất cấp khoảng 60 vạn m3/ngày đêm, tỷ lệ cung cấp nước sạch cho người dân trong vùng đã nâng lên và có nhiều cải thiện. Hiện nay bằng nhiều nguồn vốn vay ODA của WB, OECF,... các tỉnh đang triển khai các dự án cấp nước như: ở Hà Nội (100.000 m3/ngày đêm), ở Hạ Long hai dự án Đồng Ho và Đồi Vọng (công suất 80.000 m3/ngày đêm) và nâng công suất nhà máy nước An Dương ở Hải Phòng (từ 60.000 lên 100.000 m3/ngày đêm). Đồng thời, đang nghiên cứu các dự án cấp nước cho hai thành phố Hà Nội, Hải Phòng.
(5) Một số mặt văn hóa – xã hội có bước phát triển khá
Hệ thống giáo dục phát triển tốt, đa dạng nhiều cấp học cũng như ngành học. Hệ thống giáo dục cao đẳng, đại học không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong vùng mà còn phục vụ cho các vùng khác. Nhiều trường đại học, cao đẳng, trung tâm dạy nghề đã được nâng cấp, trong đó một số trường đại học trọng điểm và dạy nghề trọng điểm đã được hiện đại hoá một bước. Đây là vùng có trình độ dân trí cao nhất so với các vùng khác trong cả nước, tập trung tới 26 - 27% cán bộ có trình độ cao đẳng và đại học và 72% cán bộ có trình độ trên đại học của cả nước. Toàn vùng có 50 trường đại học, 20 trường cao đẳng (trên tổng số 139 trường của cả nước), 42 trường dạy nghề, 102 viện nghiên cứu chuyên ngành.
Mạng lưới y tế ngày càng được củng cố và phát triển, toàn vùng KTTĐPB hiện có 104 bệnh viện (chiếm 12,5% so cả nước), hơn 18 nghìn giường bệnh (chiếm hơn 16,3% so cả nước), có một số cơ sở đầu ngành của cả nước và đạt trình độ khám chữa bệnh tương đối cao so với khu vực và quốc tế. Trên địa bàn vùng KTTĐPB tất cả các xã, phường đều đã có trạm y tế, có 51 bệnh viện từ tuyến tỉnh trở lên (trong đó 42 bệnh viện đã và đang được cải tạo, nâng cấp) có bước tiến bộ đáng kể về cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ khám, chữa bệnh.
Tỷ lệ hộ đói cùng kiệt giảm đáng kể (từ 9,6% năm 1995 xuống còn 6,3% năm 2002); mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 12 vạn người, mức sống của người dân ngày càng cao… Tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị năm 2005 giảm xuống còn 6% (cả nước là 5,6%).
Hưởng thụ văn hoá của nhân dân được nâng cao một bước, 100% số hộ thành thị có thiết bị nghe nhìn, khoảng 90% các hộ nông dân được hưởng thụ các dịch vụ phát thanh và truyền hình.
An ninh, chính trị và trật tự xã hội có nhiều tiến bộ, thực hiện tốt các chương trình phát triển xã hội, chương trình 3 giảm (ma tuý, mại dâm, tội phạm); chương trình giải quyết việc làm và giới thiệu việc làm.
b. Những mặt còn hạn chế của Vùng
(1) Cơ cấu kinh tế tuy có sự chuyển dịch nhưng còn chậm so với yêu cầu phát triển, chưa tạo ra tiền đề cho tăng tốc và cạnh tranh quốc tế
Cơ cấu công nghiệp chưa hợp lý. Công nghiệp cơ bản và công nghiệp bổ trợ (sản xuất nguyên liệu, linh kiện, phụ kiện...) chưa phát triển; công nghiệp công nghệ cao, chứa đựng hàm lượng chất xám lớn, công nghiệp cơ khí chế tạo máy... phát triển kém.
Sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp còn yếu, chi phí sản xuất còn cao. Năm 2002 chi phí sản xuất của các ngành công nghiệp chiếm khoảng 57% trong giá trị sản xuất công nghiệp. Nhiều sản phẩm công nghiệp, đặc biệt công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp chưa chiếm lĩnh được thị trường trong nước (máy động lực phục vụ nông nghiệp của vùng chỉ giành được khoảng 5 – ...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
H Định giá quy hoạch và phát triển đô thị Hà Nội 2020 Luận văn Kinh tế 0
G Phân tích chi phí lợi ích của việc thực hiện quy hoạch duy trì và phát triển không gian xanh thủ đô Hà Nội Luận văn Kinh tế 0
C Nghiên cứu quy hoạch môi trường gắn với quy họach phát triển kinh tế xã hội Thị xã Bến Tre từ nay đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Khoa học Tự nhiên 0
T Quy hoạch phát triển hệ thống giao thông tỉnh Thái Nguyên Luận văn Kinh tế 0
M Xây dựng - Quy hoạch phát triển hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam Luận văn Kinh tế 0
R Quy hoạch tổng thể phát triển kinh xã hội Quận Đống Đa, Ba Đình giai đoạn 2001-2010 Luận văn Kinh tế 0
S Định hướng và giải pháp phát triển của viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp trong tương lai Luận văn Kinh tế 0
T Quy hoạch phát triển vùng Bắc trung bộ Luận văn Kinh tế 0
C Nghiên cứu các vấn đề môi trường và quy hoạch môi trường, phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững Công nghệ thông tin 2
L Nghiên cứu các kiểu vỏ phong hóa và đất phục vụ quy hoạch và phát triển bền vững khu vực hành lang đường mòn Hồ Chí Minh trong phạm vi tỉnh Hà Tĩnh Luận văn Sư phạm 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top