ngoclx_love_boysh_118
New Member
Download Tiểu luận Quyền và nghĩa vụ của người cư trú và người không cư trú trong việc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam miễn phí
MỤC LỤC
Trang
A. Lời mở đầu . 1
B. Nội dung
I. Những vấn đề chung . 2
1.1. Khái niệm ngoại hối . 2
1.2. Khái niệm hoạt động ngoại hối . 3
1.3. Chủ thể của hoạt động ngoại hối 4
II. Quyền và nghĩa vụ của NCT và NKCT trong việc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam .
6
2.1. Nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam
2.2. Sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ của NCT và NKCT trên lãnh thổ Việt Nam .
III. Đánh giá pháp luật hiện hành về quy định sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.
3.1. Mặt tích cực
3.2. Mặt hạn chế
C. Kết luận 6
7
15
16
18
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
ã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hay được sử dụng trong thanh toán quốc tế.”Như vậy từ định nghĩa ngoại hối mà nước ta đang sử dụng có thể thấy ngoại hối được sử dụng mang tính ước lệ và nghiêng về ý nghĩa pháp lí nhiều hơn ý nghĩa kinh tế trên thị trường tài chính tiền tệ. Quan điểm về khái niệm ngoại hối có thể được hiểu không hoàn toàn thống nhất trong hệ thống pháp luật của mỗi nước. Do vậy mà quan điểm về hoạt động ngoại hối cũng có sự khác biệt, trong đó có sự khác biệt về hoạt động ngoại hối của người cư trú và người không cư trú. Vậy theo pháp luật Việt Nam hiện hành tương ứng với định nghĩa ngoại hối như trên, hoạt động ngoại hối được hiểu như thế nào?
1.2. Khái niệm hoạt động ngoại hối:
Theo góc độ khoa học pháp lí: Hoạt động ngoại hối là tổng hợp các hành vi pháp lí do các chủ thể khác nhau thực hiện trong quá trình chiếm hữu sử dụng và định đoạt các tài sản coi được coi là ngoại hối. Các hành vi pháp lí này có thể là hành vi pháp lí hay hành vi thương mại phụ thuộc vào việc người sử dụng chúng vì nhu cầu dân sự hay thương mại.
Theo góc độ pháp luật thực định: Tại khoản 8 Điều 4 pháp lệnh ngoại hối 2005 qui định "Hoạt động ngoại hối là hoạt động của người cư trú, người không cư trú trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối."
Như vậy hoạt động ngoại hối tương ứng với định nghĩa ngoại hối mà ta đã tìm hiểu ở trên là một quá trình hoạt động kinh tế - pháp lí của các chủ thể, thông qua việc xác lập và thực hiện các giao dịch khác nhau về ngoại hối. Hoạt động ngoại hối có đối tượng là chính là các ngoại hối đã được pháp luật Việt Nam qui định và cho phép lưu thông và các dịch vụ ngoại hối. Nội dung của hoạt động ngoại hối bao gồm các giao dich vãng lai, giao dịch vốn, các hành vi sử dụng ngoại hối hay cung ứng dịch vụ về ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam. Và chủ thể của hoạt động ngoại hối là người cư trú và người không cư trú trực tiếp tham gia vào các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối.
Chủ thể tham gia hoạt động ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam
Về nguyên tắc, chủ thể sử dụng ngoại hối bao giờ cũng là tổ chức hay cá nhân. Tuy nhiên theo cách phân loại hiện hành thì chủ thể sử dụng ngoại hối bao gồm người cư trú (cá nhân, tổ chức) và người không cư trú (cá nhân, tổ chức). Xét từ góc độ quản lý nhà nước thì cách phân loại này giúp cho Nhà nước có chính sách quản lý thích hợp cho từng đối tượng quản lý nhà nước về ngoại tệ. Tuy nhiên, các nhà làm luật lại không đưa ra định nghĩa khái quát thế nào là người cư trú và người không cư trú mà chỉ liệt kê những tổ chức, cá nhân nào thuộc loại người cư trú và người không cư trú. Và căn cứ theo những văn bản pháp luật đã ban hành cụ thể là pháp lệnh ngoại hối năm 2005 thì những đối tượng đó được xác định như sau:
"2. Người cư trú là tổ chức, cá nhân thuộc các đối tượng sau đây:
a) Tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam (sau đây gọi là tổ chức tín dụng);
b) Tổ chức kinh tế được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trừ đối tượng quy định tại điểm a khoản này (sau đây gọi là tổ chức kinh tế);
c) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của Việt Nam hoạt động tại Việt Nam;
d) Cơ quan thay mặt ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam tại nước ngoài;
đ) Văn phòng thay mặt tại nước ngoài của các tổ chức quy định tại các điểm a, b và c khoản này;
e) Công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam; công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thời hạn dưới 12 tháng; công dân Việt Nam làm việc tại các tổ chức quy định tại điểm d và điểm đ khoản này và cá nhân đi theo họ;
g) Công dân Việt Nam đi du lịch, học tập, chữa bệnh và thăm viếng ở nước ngoài;
h) Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có thời hạn từ 12 tháng trở lên, trừ các trường hợp người nước ngoài học tập, chữa bệnh, du lịch hay làm việc cho cơ quan thay mặt ngoại giao, lãnh sự, văn phòng thay mặt của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.
3. Người không cư trú là các đối tượng không quy định tại khoản 2 Điều này."
Theo như qui định trên thì "người" ở đây được hiểu ở hai khía cạnh là cá nhân và tổ chức là công dân hay không phải là công dân Việt Nam. Nhìn vào qui định của pháp luật hiện hành như trên có thế thấy có sự qui định tương đối rõ ràng thế nào được gọi là người cư trú trong hoạt động ngoại hối và có sự khác biệt cơ bản trong khái niệm phân biệt với người không cư trú với phương pháp định nghĩa loại trừ như trên. Nhưng cũng chính vì vậy dẫn đến sự không cụ thể về phần định nghĩa đối với người không cư trú.
Từ những khái niệm pháp lí cơ bản về ngoại hối, hoạt động ngoại hối, người cư trú (NCT), người không cư trú (NKCT) chúng ta tiếp tục có những qui định pháp luật cụ thế về hoạt động ngoại hối của người cư trú và người không cư trú, sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ của người cư trú và người không cư trú khi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam
II. Quyền và nghĩa vụ của NCT và NKCT khi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam:
2.1. Nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam:
Căn cứ theo những quy định của pháp luật, ngoài quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trong các giao dịch thanh toán, niêm yết, quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam như dự liệu tại Điều 29 Nghị định số số 160/2006/NĐ – CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối 2005, NCT và NKCT có quyền sử dụng ngoại hối của mình trên lãnh thổ Việt Nam theo nguyên tắc sau:
NCT và NKCT được mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch hợp pháp của mình trên lãnh thổ Việt Nam như tiếp nhận ngoài tệ từ nước ngoài chuyển vào hay từ các nguồn thu ngoại tệ ở trong nước; chuyển ngoại tệ để bán cho các tổ chức tín dụng được phép; chi trả bằng ngoại tệ cho các giao dịch hợp pháp của mình thông qua tổ chức tín dụng, rút ngoại tệ tiền mặt để chi tiêu cho nhu cầu cá nhân…
NCT, NKCT là cá nhân có ngoại tệ tiền mặt được quyền cất giữ, mang theo người, cho tặng, thừa kế, bán cho các tổ chức tín dụng được phép, chuyển, mang ngoại tệ tiền mặt ra nước ngoài phục vụ cho các nhu cầu và mục đích hợp pháp của mình.
NCT và NKCT là cá nhân được sử dụng thẻ thanh toán quốc tế để giao dịch với khách hàng thông qua các tổ chức tín dụng được phép và các đơn vị chấp nhận thẻ. Các đơn vị chấp nhận thẻ chỉ được nhận thanh toán...