Download miễn phí Tài liệu Mạng máy tính (computer networks)
Các chuẩn của mạng máy tính
Đểmạng đạt khảnǎng tối đa, các tiêu chuẩn được chọn phải cho phép mở
rộng mạng đểcó thểphục vụnhững ứng dụng không dựkiến trước trong
tương lai tại lúc lắp đặt hệthống và điều đó cũng cho phép mạng làm việc
với những thiết bị được sản xuất từnhiều hãng khác nhau.
Hội đồng tiêu chuẩn quốc tếlà ISO (International Standards Organization),
do các nước thành viên lập nên. Công việc ởBắc Mỹchịu sự điều hành của
ANSI (American National Standards Institude) ởHoa Kỳ. ANSI đã uỷthác
cho IEEE (Institude of Electrical and Electronics Engineers) phát triển và đề
ra những tiêu chuẩn kỹthuật cho LAN
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-02-25-tai_lieu_mang_may_tinh_computer_networks.rYhffKEOO1.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-59510/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
elded twisted pair), cáp quang (Fiber optic),....Mỗi loại dây cáp đều có tính nǎng khác nhau.
Dây cáp đồng trục được chế tạo gồm một dây đồng ở giữa chất cách điện,
chung quanh chất cách điện được quán bằng dây bện kim loại dùng làm dây
đất. Giữa dây đồng dẫn điện và dây đất có một lớp cách ly, ngoài cùng là
một vỏ bọc bảo vệ. Dây đồng trục có hai loại, loại nhỏ (Thin) và loại to
(Thick). Dây cáp đồng trục được thiết kế để truyền tin cho bǎng tần cơ bản
(Base Band) hay bǎng tần rộng (broadband). Dây cáp loại to dùng cho
đường xa, dây cáp nhỏ dùng cho đường gần, tốc độ truyền tin qua cáp đồng
trục có thể đạt tới 35 Mbit/s.
Dây cáp xoắn được chế tạo bằng hai sợi dây đồng (có vỏ bọc) xoắn vào
nhau, ngoài cùng có hay không có lớp vỏ bọc bảo vệ chống nhiễu.
Dây cáp quang làm bằng các sợi quang học, truyền dữ liệu xa, an toàn và
không bị nhiễu và chống được han rỉ. Tốc độ truyền tin qua cáp quang có thể
đạt 100 Mbit/s.
Nhìn chung, yếu tố quyết định sử dụng loại cáp nào là phụ thuộc vào yêu
cầu tốc độ truyền tin, khoảng cách đặt các thiết bị, yêu cầu an toàn thông tin
và cấu hình của mạng,....Ví dụ mạng Ethernet 10 Base-T là mạng dùng kênh
truyền giải tần cơ bản với thông lượng 10 Mbit/s theo tiêu chuẩn quốc tế
ISO/IEC 8802.3 nối bằng đôi dây cáp xoắn không bọc kim (UTP) trong
Topology hình sao.
Việc kết nối các máy tính với một dây cáp được dùng như một phương tiện
truyền tin chung cho tất cả các máy tính. Công việc kết nối vật lý vào mạng
được thực hiện bằng cách cắm một card giao tiếp mạng NIC (Network
Interface Card) vào trong máy tính và nối nó với cáp mạng. Sau khi kết nối
vật lý đã hoàn tất, quản lý việc truyền tin giữa các trạm trên mạng tuỳ từng trường hợp
vào phần mềm mạng.
Đầu nối của NIC với dây cáp có nhiều loại (phụ thuộc vào cáp mạng), hiện
nay có một số NIC có hai hay ba loại đầu nối. Chuẩn dùng cho NIC là
MẠNG MÁY TÍNH (COMPUTER NETWORKS) 5
NE2000 do hãng Novell và Eagle dùng để chế tạo các loại NIC của mình.
Nếu một NIC tương thích với chuẩn NE2000 thì ta có thể dùng nó cho nhiều
loại mạng. NIC cũng có các loại khác nhau để đảm bảo sự tương thích với
máy tính 8-bit và 16-bit.
Mạng LAN thường bao gồm một hay một số máy chủ (file server, host),
còn gọi là máy phục vụ) và một số máy tính khác gọi là trạm làm việc
(Workstations) hay còn gọi là nút mạng (Network node) - một hay một số
máy tính cùng nối vào một thiết bị nút.
Máy chủ thường là máy có bộ xử lý (CPU) tốc độ cao, bộ nhớ (RAM) và đĩa
cứng (HD) lớn.
Trong một trạm mà các phương tiện đã được dùng chung, thì khi một trạm
muốn gửi thông điệp cho trạm khác, nó dùng một phần mềm trong trạm làm
việc đặt thông điệp vào "phong bì", phong bì này gọi là gói (packet), bao
gồm dữ liệu thông điệp được bao bọc giữa tín hiệu đầu và tín hiệu cuối (đó
là những thông tin đặc biệt) và sử dụng phần mềm mạng để chuyển gói đến
trạm đích.
NIC sẽ chuyển gói tín hiệu vào mạng LAN, gói tín hiệu được truyền đi như
một dòng các bit dữ liệu thể hiện bằng các biến thiên tín hiệu điện. Khi nó
chạy trong cáp dùng chung, mọi trạm gắn với cáp đều nhận được tín hiệu
này, NIC ở mỗi trạm sẽ kiểm tra địa chỉ đích trong tín hiệu đầu của gói để
xác định đúng địa chỉ đến, khi gói tín hiệu đi tới trạm có địa chỉ cần đến,
đích ở trạm đó sẽ sao gói tín hiệu rồi lấy dữ liệu ra khỏi phong bì và đưa vào
máy tính.
Các kiểu (Topology) của mạng LAN
Topology của mạng là cấu trúc hình học không gian mà thực chất là cách bố
trí phần tử của mạng cũng như cách nối giữa chúng với nhau. Thông thường
mạng có 3 dạng cấu trúc là: Mạng dạng hình sao (Star Topology), mạng
MẠNG MÁY TÍNH (COMPUTER NETWORKS) 6
dạng vòng (Ring Topology) và mạng dạng tuyến (Linear Bus Topology).
Ngoài 3 dạng cấu hình kể trên còn có một số dạng khác biến tướng từ 3 dạng
này như mạng dạng cây, mạng dạng hình sao - vòng, mạng hỗn hợp,v.v....
Mạng dạng hình sao (Star topology)
Mạng dạng hình sao bao gồm một trung tâm và các nút thông tin. Các nút
thông tin là các trạm đầu cuối, các máy tính và các thiết bị khác của mạng.
Trung tâm của mạng điều phối mọi hoạt động trong mạng với các chức nǎng
cơ bản là:
• Xác định cặp địa chỉ gửi và nhận được phép chiếm tuyến thông tin và
liên lạc với nhau.
• Cho phép theo dõi và sử lý sai trong quá trình trao đổi thông tin.
• Thông báo các trạng thái của mạng...
Các ưu điểm của mạng hình sao:
• Hoạt động theo nguyên lý nối song song nên nếu có một thiết bị nào
đó ở một nút thông tin bị hỏng thì mạng vẫn hoạt động bình thường.
• Cấu trúc mạng đơn giản và các thuật toán điều khiển ổn định.
• Mạng có thể mở rộng hay thu hẹp tuỳ theo yêu cầu của người sử
dụng.
Nhược điểm của mạng hình sao:
• Khả nǎng mở rộng mạng hoàn toàn phụ thuộc vào khả nǎng của trung
tâm . Khi trung tâm có sự cố thì toàn mạng ngừng hoạt động.
• Mạng yêu cầu nối độc lập riêng rẽ từng thiết bị ở các nút thông tin đến
trung tâm. Khoảng cách từ máy đến trung tâm rất hạn chế (100 m).
Nhìn chung, mạng dạng hình sao cho phép nối các máy tính vào một bộ tập
trung (HUB) bằng cáp xoắn, giải pháp này cho phép nối trực tiếp máy tính
với HUB không cần thông qua trục BUS, tránh được các yếu tố gây ngưng
trệ mạng. Gần đây, cùng với sự phát triển switching hub, mô hình này ngày
càng trở nên phổ biến và chiếm đa số các mạng mới lắp.
MẠNG MÁY TÍNH (COMPUTER NETWORKS) 7
Mạng hình tuyến (Bus Topology)
Theo cách bố trí hành lang các đường như hình vẽ thì máy chủ (host) cũng
như tất cả các máy tính khác (workstation) hay các nút (node) đều được nối
về với nhau trên một trục đường dây cáp chính để chuyển tải tín hiệu.
Tất cả các nút đều sử dụng chung đường dây cáp chính này. Phía hai đầu dây
cáp được bịt bởi một thiết bị gọi là terminator. Các tín hiệu và gói dữ liệu
(packet) khi di chuyển lên hay xuống trong dây cáp đều mang theo điạ chỉ
của nơi đến.
Loại hình mạng này dùng dây cáp ít nhất, dễ lắp đặt. Tuy vậy cũng có những
bất lợi đó là sẽ có sự ùn tắc giao thông khi di chuyển dữ liệu với lưu lượng
lớn và khi có sự hỏng hóc ở đoạn nào đó thì rất khó phát hiện, một sự ngừng
trên đường dây để sửa chữa sẽ ngừng toàn bộ hệ thống.
Mạng dạng vòng (Ring Topology)
Mạng dạng này, bố trí theo dạng xoay vòng, đường dây cáp được thiết kế
làm thành một vòng khép kín, tín hiệu chạy quanh theo một chiều nào đó.
Các nút truyền tín hiệu cho nhau mỗi thời điểm chỉ được một nút mà thôi.
Dữ liệu truyền đi phải có kèm theo địa chỉ cụ thể của mỗi trạm tiếp nhận.
Mạng dạng vòng có thuận lợi là có thể nới rộng ra xa, tổng đường dây cần
thiết ít hơn so với hai kiểu trên. Nhược điểm là đường dây phải khép kín,
nếu bị ngắt ở một nơi nào đó thì toàn bộ hệ thống cũng bị ngừng.
Mạng dạng kết hợp
• Kết hợp hình sao và tuyến (star/Bus Topology)
MẠNG MÁY TÍNH (COMPUTER N...