Download miễn phí Đề tài Thực trạng lạm phát tiền tệ và sự vận dụng lạm phát ở Việt Nam
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU - 2 -
PHẦN NỘI DUNG - 3 -
A/ MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT - 3 -
I/ Bản chất của lạm phát - 3 -
1.Lạm phát là gì? - 3 -
2.Đo lường - 3 -
3.Phân loại - 4 -
II / Những tác động của lạm phát tới nền kinh tế - 5 -
1.Tác động của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế - 5 -
2.Tác động của lạm phát tới lãi suất - 6 -
3.Tác động của lạm phát đến thất nghiệp - 6 -
Tỷ lệ lạm phát - 6 -
B/ THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC - 8 -
I/ Thực trạng lạm phát ở nước ta - 8 -
1.Thời kỳ trước đổi mới (trước năm 1986) - 8 -
2.Thời kỳ bắt đầu đổi mới (1986 – 1990) - 8 -
3.Thời kỳ nền kinh tế đi vào ổn định (1991 – 1995) - 8 -
4.Thời kỳ nền kinh tế có dấu hiệu trì trệ ( 1996 – 2000 ) - 9 -
5.Thời kỳ nền kinh tế có những bước phát triển mới (2001 – 2004) - 10 -
6.Lạm phát trong các năm 2004, 2005, 2006 và năm 2007 - 10 -
II/ Môt số giải pháp thực hiện chống lạm phát - 15 -
1.Xây dựng phương pháp tính toán lạm phát cơ bản, dự báo lạm phát - 15 -
2.NHNN cần tăng cường phát triển các nghiệp vụ NHNN - 15 -
3.Tăng cường quản lý và nâng cao dự trữ tiền tệ quốc gia - 15 -
4.Sự phối hợp của các cơ quan nhà nước - 16 -
5.Chính sách thuế - 16 -
6.Đối với NSNN - 16 -
7.Đối với nguồn vốn nước ngoài - 16 -
8.Kiểm soát tình trạng thanh toán bằng tiền mặt - 16 -
9.Chính sách đầu tư - 17 -
10.Xây dựng hoàn thiện chính sách ngoại thương phù hợp với chiến lược tăng cường và hội nhập kinh tế quốc tế - 17 -
PHẦN KẾT LUẬN - 18 -
Danh mục tài liệu tham khảo - 19 -
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-15-de_tai_thuc_trang_lam_phat_tien_te_va_su_van_dung.ENtzeQvhw5.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-45308/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
n này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả.2.Đo lường
Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định, các nhà thầu kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giá chung. Tỷ lệ lạm phát cho thời kỳ t được tính theo công thức sau:
Л t = P t – P t-1 x 100 %
P t –1
Trong ®ã:
Л t : Tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t (có thể là tháng, quý, hay năm)
P t : Mức giá của thời kỳ t
P t –1 : mức giá của thời kỳ trước đó
Rõ ràng là để tính được tỷ lệ lạm phát, trước hết các nhà thống kê phải quyết định sử dụng chỉ số giá nào để phản ánh mức giá. Người ta thường sử dụng chỉ số điều chỉnh GDP và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để đo lường mức giá chung. Tuy nhiên, nếu mục tiêu xác định ảnh hưởng của lạm phát đến mức sống thì rõ ràng chỉ số giá tiêu dùng tỏ ra thích hợp hơn. Trong thực tế, các số liệu công bố chính thức về lạm phát thường được tính trên cơ sở CPI.
3.Phân loại
Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoạc mức độ. Khi bàn về tác động của lạm phát ta sẽ nói đến việc phân loại theo tính chất, còn trong mục này, ta sẽ phân loại lạm phát theo mức độ của tỷ lệ lạm phát. Theo tiêu thức này, các nhà kinh tế thường phân biệt 3 loại lạm phát : Lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát.
Lạm phát vừa phải : là lạm phát ở mức thấp và có thể đoán được, lạm phát dưới một con số, mọi người tin tưởng vào đồng tiền và sẵn sàng gửi tiền cũng như ký hợp đồng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền.
Lạm phát phi mã : là lạm phát trong phạm vi hai con số hay ba con số một năm. Làm phát phi mã làm xuất hiện nhiều biến dạng kinh tế quan trọng, có thể gây khủng hoảng các thị trường tài chính.
Siêu lạm phát : là lạm phát xảy ra khi giá cả tăng với tỷ lệ cao tới con số hàng ngàn, hàng triệu phần một năm. Lạm phát ở Đức trong những năm 1992,1993 là một ví dụ điển hình. Từ tháng giêng 1992 đến tháng 1 năm 1993, chỉ số giá tăng từ 1 triệu lên 10 triệu. Siêu lạm phát làm rối loạn nền kinh tế.
II / Những tác động của lạm phát tới nền kinh tế
1.Tác động của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế
Có rất nhiều tranh luận xung quanh mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh tế theo trường phái lập luận cho rằng lạm phát và tăng trưởng kinh tế có quan hệ tỷ lệ thuận, nếu có tăng trưởng kinh tế tất có lạm phát. Có thể khái quát lý thuyết này qua công thức đơn giản sau :
g = GDP1/GDP0 = P1xQ1/P0xQ0
Trong đó:
g – Tăng trưởng kinh tế.
GDP1 - tổng sản phẩm quốc nội năm tính toán.
GDP0 - Tổng sản phẩm quốc nội năm trước năm tính toán.
P1 - Mức giá chung năm tính toán.
P0 - Mức giá chung năm trước năm tính toán.
Q1 - Mức hàng hoá hiện vật năm tính toán.
Q0 - Mức hàng hoá hiện vật năm trước năm tính toán.
Với lí luận này, ở một số nước đang phát triển, lạm phát được coi là yếu tố tích cực để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Bởi lẽ lạm phát làm tăng tiết kiệm và đầu tư do chuyển thu nhập từ những người làm công ăn lương sang thu nhập của các nhà kinh doanh lấy lãi. Và nếu giá tăng nhanh sẽ có xu hướng làm ăn lương sang thu nhập của các nhà kinh doanh lấy lãi. Và nếu giá tăng nhanh sẽ có xu hướng làm tăng khoản tiết kiệm từ lợi nhuận cao hơn tăng khoản tiết kiệm từ tiền lương. Mức đầu tư và tiết kiệm thực tế sẽ tăng lên. Kết quả đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, một số nhà kinh tế khác lại cho rằng lạm phát làm mức lãi suất thực tế giảm, tạo ra mất cân bằng ở thị trường vốn. Điều này làm cho cung nguồn vốn đầu tư giảm, đầu tư tư nhân bị hạn chế. Do đó lạm phát đưa đến lãi suất thực dương và mất cân bằng ở thị trường vốn, kết quả là đầu tư và tăng trưởng kinh tế giảm.
Kết quả nghiên cứu của Bruno (1995) cho thấy rằng tăng trưởng giảm mạnh trong các thời kỳ lạm phát cao (>40%). Và nhìn chung tăng trưởng được khôi phục nhanh sau khi lạm phát được ổn định. Sarel (1996) cũng cho thấy rằng ảnh hưởng xấu của lạm phát vào tăng trưởng kinh tế bắt đầu đáng kể khi mức lạm phát thấp hơn (khoảng 8 đến 10% một năm).
2.Tác động của lạm phát tới lãi suất
Lãi suất và lạm phát có mối quan hệ khăng khít với nhau. Lãi suất là giá của tiền tệ, nên lãi suất phải dương mới không làm đồng tiền mất giá. Muốn có lãi xuất thực dương thì lãi suất danh nghĩa phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát, do lãi xuất thực dương bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát và lớn hơn không. Lãi suất thực dương tăng thì lạm phát giảm và lãi suất thực dương giảm thì lạm phát tăng. Nếu lãi suất dương quá cao sẽ đưa đến thiểu phát và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Lãi suất thưc dương quá cao dẫn đến làm giảm đầu tư phát triển và có nguy cơ rủi ro cao đối với an toàn của hệ thống ngân hàng vì lãi suất thực dương cao thì khả năng kinh doanh có hiệu quả cao để đủ có lãi và trả được nợ của các doanh nghiệp cho ngân hàng là rất khó khăn. Nguy cơ phá sản và nợ không trả được cho ngân hàng của các doanh nghiệp là chắc chắn, nên các ngân hàng cũng nằm trong nguy cơ phá sản lớn.
3.Tác động của lạm phát đến thất nghiệp
Năm 1958, nhà kinh tế A.W.Phillips đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp là mối tương quan nghịch. Nghĩa là những năm nước Anh có thất nghiệp thấp thì tiền lương thường tăng nhanh và ngược lại. Mối tương quan này nảy sinh là vì thất nghiệp thấp gắn với tổng cầu cao, đồng thời tổng cầu cao lại tạo áp lực đẩy tiền lương và giá cả tăng lên trong toàn bộ nền kinh tế. Mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lạm phát và thất nghiệp được thể hiện qua đường Phillíp :
Tỷ lệ lạm phát
6
2
Đường Phillips
0 4 7 Tỷ lệ thất nghiệp
Hình 1
Đường Phillíp cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách một thực đơn về các kết cục kinh tế có thể xảy ra. Vị trí của đường Phillips ngắn hạn phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát dự kiến.
Đường Phillips
π dài hạn, PCLR
πe1
PC1
πe0
PC0
U* U
Hình 2
Nếu tỷ lệ lạm phát dự kiến tăng từ πe0 l ên πe1 thì đường Phillips dịch chuyển lên trên từ PC0 đến PC1 và sự đánh đổi mà các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt trở nên bất lợi hơn, lạm phát cao hơn tại mọi mức thất nghiệp. Ngược lại nếu tỷ lệ lạm phát dự kiến giảm từ πe1 xuống πe0 thì đường Phillíp sẽ dịch chuyển xuống dưới và sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp mà các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt trở nên thuận lợi hơn, lạm phát thấp hơn tại mọi mức thất nghiệp.
Đường Phillips ngắn hạn cũng có thể dịch chuyển do các cú sốc cung. Ví dụ: giá dầu thế giới tăng vọt, điều này làm tăng chi phí sản xuất, đường tổng cung ngắn hạn của các nước nhập khẩu dầu mỏ dịch chuyển sang trái dẫn tới hiện tượng giá cả tăng, sản lượng giảm -...