Ryley

New Member
Download Khóa luận Thực trạng và hướng hoàn thiện chế định Thẩm phán Toà án nhân dân theo pháp luật hiện hành

Download miễn phí Khóa luận Thực trạng và hướng hoàn thiện chế định Thẩm phán Toà án nhân dân theo pháp luật hiện hành





MỤC LỤC
 
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỊNH THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH. 4
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN 4
1.1.1 Hiến pháp 1946 4
1.1.2. Hiến pháp 1959 6
1.1.3. Hiến pháp 1980 7
1.1.4. Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 8
1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỊNH THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 10
1.2.1. Thẩm phán, vị trí, vai trò của người Thẩm phán 10
1.2.2. Quyền hạn và nghĩa vụ của người Thẩm phán 15
1.2.3. Tiêu chuẩn và nguồn Thẩm phán 16
1.2.4. Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức Thẩm phán 18
1.2.5. Tiền lương và các chế độ phụ cấp cho Thẩm phán 20
1.2.6. Khen thưởng và kỷ luật Thẩm phán 22
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 24
2.1. THỰC TRẠNG CHẾ ĐỊNH THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN 24
2.1.1. Về chế độ tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán 24
2.1.3. Về số lượng và chất lượng Thẩm phán 36
2.1.4. Cơ chế quản lý Nhà nước đối với Thẩm phán 42
2.1.5. Những nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng trên. 43
2.2. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN 46
2.2.1. Về chế độ tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán 46
2.2.2. Cải cách chế độ tiền lương và chế độ đãi ngộ khác cho Thẩm phán 50
2.2.3. Đảm bảo các điều kiện vật chất, tinh thần cho hoạt động của Thẩm phán 52
2.2.4. Đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước đối với Thẩm phán. 54
KẾT LUẬN 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
 



Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

đổi bổ sung năm 2007, 2008.
Trên đây là toàn bộ nghiên cứu các quy định của pháp luật về chế định Thẩm phán TAND từ khi Nhà nước ta thành lập cho tới nay. Phần đầu của luận văn đã cho thấy vai trò của người Thẩm phán trong hoạt động xét xử của Toà án thể hiện cụ thể trong các quy định của pháp luật qua từng thời kỳ phát triển. Chương 2 của luận văn sẽ tiếp tục phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về Thẩm phán, thực trạng và phương hướng hoàn thiện chế định này
Chương 2
Thực trạng và hướng hoàn thiện chế định thẩm phán Toà án nhân dân theo pháp luật hiện hành
2.1. Thực trạng chế định thẩm phán Toà án nhân dân
2.1.1. Về chế độ tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán
Thực hiện chủ trương tăng thẩm quyền trong lĩnh vực xử lý án hình sự, dân sự nên nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng ngày càng nặng nề hơn. Yêu cầu đặt ra là có một chế độ tuyển chọn đáp ứng đủ số lượng Thẩm phán có trình độ để phục vụ hoạt động xét xử và xây dựng ngành Toà án ngày càng vững mạnh.
Có thể thấy rằng việc thay đổi chế độ tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân trong Hiến pháp 1992 là một sự đột phá, tạo ra một bước ngoặt phù hợp hơn với thời kỳ mới. Cho tới nay chế độ này vẫn giữ nguyên bản chất của nó, phù hợp với quy luật khách quan và với điều kiện hoàn cảnh nước ta hiện nay. Bằng việc thay đổi chế độ bổ nhiệm Thẩm phán, có thể thấy đội ngũ Thẩm phán được nâng lên về cả chất và lượng. Chế độ tuyển chọn Thẩm phán theo Hiến pháp 1992 sửa đổi và Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 cùng các văn bản hướng dẫn hiện hành có các quy định về một số nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất: Về biên chế Thẩm phán
Theo Nghị quyết số 730 của UBTVQH về việc bổ sung biên chế và số lượng Thẩm phán Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp thì việc tăng biên chế cho đội ngũ Thẩm phán được quan tâm đúng mức[13]. Năm 2009 và 2010 bổ sung 119 Thẩm phán cho Toà án nhân dân tối cao, bổ sung 112 biên chế cho Toà án nhân dân cấp tỉnh và 1269 biên chế cho Toà án nhân dân cấp huyện. Số lượng biên chế của Toà án quân sự các cấp về cơ bản được giữ nguyên số lượng [14].
Để đảm bảo đủ đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu công tác giải quyết xét xử các loại vụ án, Toà án nhân dân tối cao đã xây dựng và tổ chức thực hiện các đề án quan trọng trong đó có Đề án biên chế cho ngành Toà án nhân dân. Theo đề án này thì dựa vào các tiêu chí, từng đơn vị trong ngành sẽ phân bổ biên chế cho đơn vị mình sao cho phù hợp nhất. UBTVQH đã thông qua tổng biên chế của ngành Toà án năm 2009 được tăng thêm 1500 người trong đó có 508 Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh[14]. Điều này đã củng cố phần lớn cho số lượng Thẩm phán của ngành trong thời gian qua vốn đã thiếu so với nhu cầu công việc.
Theo quy định, UBTVQH quyết định số lượng Thẩm phán Toà án các cấp theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao ( và sự thống nhất của Bộ trưởng Bộ quốc phòng đối với Thẩm phán TAQS các cấp ) ( Điều 42 Luật tổ chức TAND năm 2002). Mặc dù đã xây dựng và hoàn thiện các Đề án về biên chế số lượng Thẩm phán như vậy nhưng về cơ bản vẫn không đủ số lượng đáp ứng đòi hỏi nhiệm vụ công tác. Trong khi số lượng công việc ngày càng tăng, Thẩm phán không thể đảm đương một lúc nhiều trọng trách, xét xử một lúc nhiều vụ án sẽ rất dễ có tình trạng quá tải, có thể dẫn tới chồng chéo, sai lầm khi giải quyết công việc.
Thứ hai: Về điều kiện, tiêu chuẩn của Thẩm phán
Để đảm bảo cho Toà án độc lập xét xử, vấn đề quan trọng đầu tiên là xây dựng các tiêu chuẩn cần và đủ cho một chức danh tư pháp, trong đó có chức danh Thẩm phán, nhân vật trung tâm của hệ thống xét xử.
Cũng giống như nhiều quốc gia trên thế giới, Điều 37 Luật tổ chức TAND năm 2002 quy định các tiêu chuẩn chung cho Thẩm phán, có thể cụ thể hoá thành 3 tiêu chí bao gồm: tiêu chuẩn về chính trị, xã hội; tiêu chuẩn chuyên môn và tiêu chuẩn đạo đức sức khoẻ.
Về tiêu chuẩn chính trị, xã hội
Pháp luật hiện hành không quy định Thẩm phán phải là Đảng viên. Người làm chính trị là người tham gia vào các tổ chức chính trị như tổ chức Đảng, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn, Mặt trận tổ quốc… để cùng xây dựng các chính sách, chủ trương mà Nhà nước tiến hành. Dù không nhất thiết là Đảng viên nhưng người Thẩm phán phải luôn theo đuổi lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có trình độ lý luận chính trị, và có những hiểu biết nhất định về xã hội. Tiêu chuẩn tuyển chọn Thẩm phán về chính trị xã hội này căn cứ vào quy định tại Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 “ công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”
Với tư cách là người nhân danh Nhà nước đưa ra các quyết định, bản án có ý nghĩa răn đe kẻ phạm tội, đảm bảo an ninh và an toàn trong xã hội, các tiêu chuẩn về chính trị xã hội là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu tuyển chọn và xây dựng đội ngũ Thẩm phán đảm bảo về chất cho hoạt động xét xử . Tiêu chuẩn này đựơc hiểu là công dân Việt Nam không có hành vi nào gây tổn hại cho nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Công dân đó phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và Pháp luật của Nhà nước, có tinh thần kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện có hại cho Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, các hành vi tham nhũng, quan liêu, hách dịch và cửa quyền. Công dân đó phải biết lắng nghe nhân dân, chịu giám sát của nhân dân, tận tình phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Công dân phải tham gia nhiệt tình vào các công tác xã hội, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc xử sự trong xã hội. Bản thân công dân đó phải chưa bao giờ bị kết án ngay cả khi đã được xoá án tích thì có thể được tuyển chọn vào hàng ngũ Thẩm phán Toà án nhân dân các cấp. Yêu cầu về chuẩn chính trị, xã hội có ý nghĩa quan trọng, là một mặt không thể thiếu đối với nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó cho mỗi Thẩm phán, chính vì vậy mà có thể thấy rằng diện được tuyển chọn, bổ nhiệm phải là những người có uy tín chính trị, theo quy chế bổ nhiệm cán bộ nói chung hay dựa vào nguồn cán bộ trong ngành tại chỗ, từ dưới lên, cán bộ trong và ngoài Đảng, nơi nào thiếu có thể chọn cán bộ làm công tác pháp luật ở các ngành khác. Hiện nay cũng có quy định cụ thể và thống nhất về nguồn tuyển chọn cho đội ngũ này. Tiêu chuẩn trên mới được ghi nhận trong Hiến pháp 1980 cho đến nay nhưng cùng với các tiêu chuẩn khác đã tạo thành một “hạt nhân” không thể thiếu trong cơ chế tuyển chọn đội ngũ Thẩm phán giai đoạn hiện nay.
Tiêu chuẩn chuyên môn
Như đã nói, nghề nghiệp thẩm phán là một nghề đặc thù. Tiêu chuẩn tuyển chọn nhìn chung khắt ...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
D Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam Luận văn Kinh tế 0
D Đầu tư phát triển tại Công ty TNHH SENA Việt Nam. Thực trạng và giải pháp Luận văn Kinh tế 0
D Chọn một doanh nghiệp bất kỳ tại Việt Nam, sau đó tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa và đạo đức kinh doanh Luận văn Sư phạm 0
R Xuất khẩu dịch vụ du lịch ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Luận văn Kinh tế 0
R Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện - Thực trạng và giải pháp Luận văn Luật 0
D Thực trạng tổ chức hạch toán kết toán tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Hưng Phát Luận văn Kinh tế 0
B Thực trạng và tính cấp thiết của việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ y học pháp - việt Sinh viên chia sẻ 0
D Tìm hiểu về bộ chứng từ trong thanh toán xuất nhập khẩu thực trạng và các giải pháp hoàn thiện tại Việt Nam Luận văn Kinh tế 0
D Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng mở rộng tại huyện Tu mơ rông năm 2016 Y dược 0
N Nhờ tải giúp em Thực trạng và các yếu tố tác động đến việc làm thêm của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (Luận văn thạc sĩ) - Phan Thị ThuThảo Khởi đầu 3

Các chủ đề có liên quan khác

Top