Garmann

New Member
Download Tiểu luận Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bào chữa

Download miễn phí Tiểu luận Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bào chữa





MỤC LỤC
Bài làm - 1 -
A. LỜI MỞ ĐẦU. - 1 -
B. NỘI DUNG. - 2 -
I. Khái niệm người bào chữa: - 2 -
II. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bào chữa: - 3 -
1. Những quy định của BLTTHS năm 2003 về quyền của người bào chữa: - 4 -
2. Những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về nghĩa vụ của người bào chữa. - 9 -
III. Vai trò của người bào chữa: - 11 -
IV. Một số đề xuất hoàn thiện các quy định này: - 11 -
C. KẾT LUẬN. - 15 -
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 16 -
 
 



Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

dân như quyền tự do về thân thể và thậm chí bị tước bỏ cả quyền sống. Vì vậy, pháp luật quy định những người này có quyền biện minh cho bản thân mình nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của nhà nước, quyền đó là quyền bào chữa. Quyền bào chữa có thể coi như là quyền đối trọng với quyền buộc tội của Nhà nước. Tuy nhiên, khi tham gia vào tố tụng hình sự, chủ thể của quyền bào chữa thường có trạng thái tâm lí căng thẳng, tự mình không nhận thức được tình tiết có lợi để bào chữa cho mình. Phần đông người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có kinh nghiệm khi va chạm tiếp xúc với các cơ quan tiến hình tố tụng, người tiến hành tố tụng và hơn nữa pháp luật ngày càng phát triển, càng phức tạp nên không phải ai cũng có thể hiểu biết hết các quy định của pháp luật để mà tự mình bào chữa, điều này dẫn đến một nhu cầu khách quan trong xã hội là phải có người hiểu biết sâu, có chuyên môn về pháp luật đê giúp bị can, bị cáo bào chữa cho mình - đó chính là người bào chữa. Khi người bào chữa đã tham gia vào tố tụng hình sự thì pháp luật phải quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của họ; những quy định này sẽ tạo thành địa vị pháp lí của người bào chữa trong tố tụng hình sự.
B. NỘI DUNG.
I. Khái niệm người bào chữa:
Hệ thống quy định của BLTTHS năm 2003 tập trung quy định về chủ thể, quyền và nhiệm vụ, lựa chọn và thay đổi người bào chữa trong tố tụng hình sự. Theo đó, Điều 56 BLTTHS năm 2003 quy định, người bào chữa có thể là: luật sư; người thay mặt hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân.
- Luật sư: là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật tham gia TTHS theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức đó theo quy định của pháp luật
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và Luật Luật sư năm 2006, một người muốn trở thành luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự phải đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Luật sư năm 2006, và được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hay người thay mặt hợp pháp yêu cầu hay được cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Luật sư có thể tham gia tố tụng hình sự với tư cách người bào chữa trong trường hợp sau:
Thứ nhất, theo hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Thứ hai, theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng (Khoản 2 Điều 57 BLTTHS).
- Người thay mặt hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
BLTTHS năm 2003 không quy định rõ ràng khái niệm “người thay mặt hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
Dựa trên quy định của BLDS năm 2005 về người thay mặt theo pháp luật, theo quan điểm này, người thay mặt hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là cha mẹ hay người giám hộ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hay có nhược điểm về tâm thần hay thể chất. Người dám hộ có thể: người giám hộ đương nhiên (điều 61 Bộ luật Dân sự năm 2005); người giám hộ được cử(Điều 63 Bộ luật dân sự năm 2005).
- Bào chữa viên nhân dân.
Theo khoản 2, 3 điều 57 của BLTTHS năm 2003, có thể hiểu bào chữa viên nhân dân là người được Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận đề cử bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình.
Bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụng để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong 2 trường hợp sau:
+ Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ( khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003 ).
+ Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận tự cử bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụng hình sự (khoản 3 Điều 57 BLTTHS năm 2003)
Theo giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, trường ĐH Luật Hà Nội. Chúng ta có thể hiều khái niệm người bào chữa như sau: Người bào chữa là người được các cơ quan tiến hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng để đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bào vệ quyền và lợi ích của họ.
II. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bào chữa:
Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định chủ yếu tại Điều 58 BLTTHS năm 2003, và một số điều khoản khác của bộ Luật này.
1. Những quy định của BLTTHS năm 2003 về quyền của người bào chữa:
Người bào chữa là người tham gia tố tụng, thực hiện chức năng bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Để đảm bảo cho người bào chữa được thưc hiện chức năng của mình BLTTHS quy định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của người bào chữa. Tất cả các quyền và nghĩa vụ đó tạo thành địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự.
BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81, 82 của BLTTHS năm 2003 thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bị mật điều tra đối với tội xâm phạm na ninh quốc gia, thì viện trưởng viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Theo đó, người bào chữa có thể tham gia tố tụng vào 1 trong 3 thời điểm sau:
- Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.
- Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ, trong trường hợp người phạm tội quả tang hay đang bị truy nã (Điều 81 BLTTHS năm 2003), bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 82 BLTTHS năm 2003).
- Người bào chữa tham gia tố tụng khi kết thúc điều tra trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quyết định của viện trưởng viện kiếm sát.
BLTTHS năm 2003 dành 2 khoản tại điều 58 để quy định về quyền của người bào chữa trong TTHS.
a. Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giam, khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giam, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa.
Đây là quy định mở rộng sự tham gia của người bào chữa trong các hoat động điều tra. Việc tham gia này của người bào chữa trong hoạt động hỏi cung có ý nghĩa trợ giúp ban đầu đối với những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Sự có mặt của người bào chữa khi lấy lời khai, khi hỏi cung giúp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được ổn định về mặt tâm lý hơn khi trả lời các câu hỏi của Điều tra viên. Với sự am hiểu pháp luật của mình, người bào chữa có thể giúp người bị tạm giữ, bị can, bí cáo nhìn ra những điểm sơ hở, thiếu chặt chẽ trong biên bản lời khai, giúp người bị tạm giữ, bị can k...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
F Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi và những vấn đề lý luận tiểu thuyết sử thi Văn học 0
T Tiểu luận Vai trò và hoạt động của trung tâm lưu ký chứng khoán . Những vấn đề còn tồn đọng Luận văn Kinh tế 1
M Tiểu luận: Xác định nghĩa vụ của cha mẹ trước những tai nạn, thương tích đối với trẻ em Tài liệu chưa phân loại 0
H Tiểu luận: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CỘNG ĐỒNG VĂN HOÁ – XÃ HỘI ASEAN (ASCC) Tài liệu chưa phân loại 0
V Tiểu luận: H1N1 và những ảnh hưởng đến môi trường Tài liệu chưa phân loại 0
T Tiểu luận: NHỮNG NGHIÊN CỨU CỦA TRƯỜNG PHÁI HỆ THỐNG THẾ GIỚI Tài liệu chưa phân loại 0
N Tiểu luận: Những mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Văn hóa, Xã hội 0
C Tiểu luận: Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước MÁc Văn hóa, Xã hội 0
T Tiểu luận: Vấn đề quốc tịch theo pháp luật hiện hành - Những điểm kế thừa và phát triển Tài liệu chưa phân loại 0
W Tiểu luận: những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nhượng quyền thương mại Luận văn Luật 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top