Download miễn phí Trầm hương
Nhân giống:
Trầm hương được nhân giống chủyếu từhạt. Cần chọn giống từnhững cây mẹtrên 12
tuổi, sinh trưởng tốt, tán đều, không bịsâu bệnh; tốt nhất là cây trong rừng giống chuyên hoá.
Quảchín sau khi thu hái vềcần ủqua 2-3 ngày cho chín đều rồi đem phơi trong bóng mát hay
nắng nhẹ, sau đó vài ngày vỏsẽnứt và hạt rơi ra. Mỗi quảthường chỉcó 1 hạt. Cây giống với
kích thước trung bình có thểcho khoảng 2.000 hạt/năm. Hạt trầm hương mất sức nẩy mầm rất
nhanh, nên cần được gieo ngay sau khi thu hái. Hạt gieo khi còn tươi thường có tỷlệnẩy mầm
tương đối cao (60-70%). Nếu qua thời gian bảo quản, tỷlệhạt nẩy mầm sẽgiảm xuống nhanh
chóng. Khoảng 10-12 ngày sau khi gieo, hạt đã bắt đầu nẩy mầm. Tuy vậy thời gian nẩy mầm
của hạt vẫn có thểchậm hơn, đôi khi tới trên 1 tháng. Ởgiai đoạn vườn ươm, cây con cần
được che bóng và giữ ẩm. Dưới 2 tháng tuổi, cây con cần che bóng 50-60%. Từtháng 3-5 che
bóng 30-40%. Sau 5 tháng dỡbỏdần giàn che. Khi cây con được 40-45 ngày tuổi, cao 6-8cm,
có 2-4 lá mầm là có thể đem cấy trong các bầu đất. Bầu đất có thểlàm bằng các túi polyethylen
có lỗthủng ở đáy hay trên thành hay các rọmảnh đan bằng tre nứa; đất trong bầu cần tơi,
xốp, đủdinh dưỡng và sạch bệnh (ruột bầu gồm 85% đất trộn với 14% phân chuồng đã ủvà
1% supe lân theo khối lượng).
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-06-04-tram_huong.1NnhKN7mmM.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-68456/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
TRẦM HƯƠNGAquilaria crassna Pierre ex Lecomte, 1914
Tên khác: Trầm, Dó bầu, Dó trầm
Họ: Trầm – Thymelaeaceae
Tên thương phẩm: Agar wood, Agar-wood oil, Malayan eaglewood
Hình thái
Trầm hương - Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte
1- Cành mang lá và hoa; 2- Quả
Cây gỗ lớn thường xanh, tán thưa,
cao 15-20(-30)m, đường kính đạt tới 40-
60cm hay hơn. Thân thường thẳng, đôi
khi có rãnh dạng lòng máng; vỏ màu nâu
xám, nứt dọc nhẹ, dễ bóc và tước ngược
từ gốc lên. Cành mảnh, cong queo, màu
nâu nhạt, có lông hay nhẵn. Lá đơn mọc
so le; phiến lá hình trứng, bầu dục thuôn
đều hay mác thuôn, kích thước 5-12x2,5-9
cm, mỏng như giấy hay dai như da, mặt
trên màu lục bóng, mặt dưới nhạt hơn và
có lông mịn, đầu nhọn hay thuôn nhọn và
tận cùng có mũi ngắn; gốc thon nhọn dần,
hình nêm; cuống lá ngắn, dài 4-6mm.
Cụm hoa dạng tán hay chùm tán,
mọc ở nách lá hay ở đầu cành; cuống
cụm hoa mảnh. Hoa nhỏ, đài hợp ở phần
dưới, hình chuông, màu vàng lục, trắng
nhạt hay vàng xám, có 5 thùy, cánh hoa
10, nhị 10; bầu hình trứng 2 ô, có lông
rậm, phía dưới có tuyến mật.
Quả nang gần hình trứng ngược hay hình quả lê, dài 4cm, đường kính 2,5-3cm, có lông
mềm, ngắn, có mang đài tồn tại, khi khô nứt thành 2 mảnh. Mỗi quả thường 1-2 hạt.
Các thông tin khác về thực vật
Chi Trầm (Aquilaria) trong Hệ Thực vật Việt Nam đã biết có 4 loài: Trầm hương – A.
crassna Pierre ex Lecomte; dó baillon – A. baillonii Pierre ex Lecomte, dó bana – A. banaensae
Phamhoang. (Phạm Hoàng Hộ, 1992; 2003) và dó quả nhăn – A. rugosa L.C. Kiet & Krbler (Lê
Công Kiệt et al, 2005). Các loài dó baillon (A. baillon), dó bana (A. banaensae) và dó quả nhăn
(A. rugosa) đều là đặc hữu. Hai loài dó baillon, dó bana đều mới gặp phân bố ở một vài nơi
thuộc Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế và Quảng Nam. Còn loài dó quả nhăn (A. rugosa) mới được
phát hiện tại Kon Tum. Theo đoán của nhiều nhà thực vật, ở Việt Nam có thể phát hiện
thêm 2 loài nữa thuộc chi Trầm hương. Đó là loài trầm hương trung quốc – A. chinensis (Lour.)
Sprengel ở các tỉnh phía Bắc và loài trầm hương indonesia – A. malaccensis Lamk. ở các tỉnh
phía Nam. Song đến nay, những nghiên cứu về các mặt sinh học (phân loại, sinh thái…), hoá
học (tinh dầu và thành phần hoá học của tinh dầu…) cũng như quá trình sinh tổng hợp tạo khối
trầm trong cây… đối với các loài trong chi Trầm (Aquilaria) ở nước ta hiện còn quá ít.
Phân bố của trầm hương
ở Việt Nam
Nguồn trầm hương hiện có trên thị trường thế giới chủ
yếu vẫn chỉ được khai thác từ 3 loài Trầm: Aquilaria
malaccensis Lamk (từ Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Indonesia,
Myanma), Aquilaria crassna (từ Việt Nam, Lào, Campuchia)
và Aquilaria sinensis (Lour.) Sprengel. (từ Trung Quốc). Cả 3
loài đều có nhiều đặc điểm rất giống nhau.
Phân bố
Việt Nam:
Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà Bình,
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai, Đắk
Lắk, Đắk Nông, Phú Yên, Bình Định, Khánh Hoà, An Giang,
Kiên Giang. Ba khu vực nhiều trầm hương nhất là Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, An Giang
và Kiên Giang (đảo Phú Quốc).
Hiện nay các cá thể trưởng thành của trầm hương cơ
bản bị tuyệt diệt trong tự nhiên. Nhưng diện tích rừng trồng
ngày một tăng, tới năm 2005 tổng diện tích rừng trồng trầm
trong cả nước đã vào khoảng 6.000 ha. Riêng tỉnh Hà Tĩnh là
2.732 ha và huyện Hương Khê 336 ha (Chi cục phát triển
Lâm nghiệp Hà Tĩnh).
Thể giới:
Lào và Campuchia.
Đặc điểm sinh học
Trầm hương phân bố rải rác trong các loại hình rừ nguyên
sinh hay thứ sinh, trên đỉnh núi, ở sườn núi hay trên .200)m
(so với mặt biển). Chúng thường mọc ở các sườn núi t. Trầm
hương thường mọc cùng với các loài cây gỗ lớn nh arrietia
javanica), gụ mật (Sindora siamensis )… Đôi khi còn g g rừng
thứ sinh cùng với các loài như thanh thất (Ailanthus tocarya
metcalfiana), bưởi bung (Acronychia pedunculata), m g ràng
(Ormosia spp.)… Nhiệt độ không khí trung bình hàng mưa từ
1.500 đến 2.500mm/năm là rất phù hợp với sinh trưởng,
Cây ưa đất feralitic điển hình, đất feralitic trên núi ph granit;
với lớp đất mặt mỏng hay trung bình, hơi ẩm, chua hoặ
Mùa hoa tháng 4-5, quả chín vào tháng 7-8.
Trầm hương sinh trưởng, phát triển tương đối nhan t ở giai
đoạn 5-8 tuổi đã đạt chiều cao 4-6m, với đường kính th cây bắt
đầu ra hoa, kết quả.
Các khối trầm (“bắp trầm”) thường được hình thàn ng gốc
hay trong rễ. Về nguyên nhân và diễn biến của quá trìn n là vấn ng thường xanh, ẩm nhiệt đới,
đất bằng, có độ cao 50-1.000(-1
có độ dốc nhỏ và thoát nước tố
ư sao (Hopea spp.), huỳnh (T
ặp trầm hương sinh trưởng tron
triphysa), mò lưng bạc (Cryp
ít nài (Artocarpus spp.), ràn
năm 20-280C với tổng lượng
phát triển của trầm hương.
ong hoá từ đá kết, đá phiến hay
c gần trung tính (pH 4-6).
h, các cá thể nhân giống từ hạ
ân 20-30cm. Ở độ tuổi 4-6 năm
h trong thân, trong cành lớn, tro
h tạo trầm ở trong cây hiện vẫ
đề bí ẩn, cần được nghiên cứu để lý giải. Đến nay đã có nhiều giả thiết khác nhau về vấn
đề này. Nhiều ý kiến cho rằng trầm được tạo thành chính là kết quả của một quá trình sinh tổng
hợp, chuyển hoá của các hoạt động bệnh lý ở những nơi bị bệnh, bị thương trên cây. Nấm và
côn trùng đục thân cây là những nguyên nhân quan trọng trong các hoạt động đó. Có giả thiết
cho rằng, trước tiên cây bị nấm gây bệnh tại những chỗ bị thương làm cho cây bị suy yếu, tiếp
đó nấm thâm nhập vào cây và tạo ra trầm. Song diễn biến của các quá trình đó ra sao, nhựa
trầm là sản phẩm được tạo ra do nấm hay từ cây; mối quan hệ giữa chúng với các hoạt động
sinh tổng hợp tạo thành khối trầm thế nào, hiện vẫn còn là vấn đề cần được nghiên cứu để làm
sáng tỏ.
Những thông tin gần đây cho biết, đã xác định được nấm Cytosphaera mangiferae có trong
trầm của loài Aquilaria malaccensis và nấm Melanotus flavolives có trong khối trầm của loài
Aquilaria sinensis.
Công dụng
Thành phần hoá học:
Tinh dầu trầm hương là chất lỏng sánh, nhớt, dẻo có màu vàng, vàng nâu hay màu đỏ hổ
phách đậm và mùi thơm dịu của trầm.
Một số kết quả phân tích đã có cho biết, thành phần chủ yếu của tinh dầu trầm hương là
các hợp chất agarofuranoid, sesquiterpenoid của các eudesman, eremophilan, valencan và
vetispiran. Theo Ishihara M. và cộng sự (1993) thành phần chủ yếu của tinh dầu tách từ loại
trầm tốt nhất của loài trầm hương indonesia (A. malaccensis Lamk.) rất phức tạp, hiện mới xác
định được khoảng trên 33 hợp chất. Trong đó nhiều nhất là 2-(2-(4-methoxyphenyl) ethyl)
chromon (27%); 2-(2-phenylethyl) chromon (15,0%); oxoagarospirol (5,0%); 9,11-
eremophiladien-8-on (3,0%); 6-methoxy-2(2-(4-methoxyphenyl) ethyl) chromon (2,5%); guaia-
1(10),11-dien-15-al (1,5%); selina-3,11-dien-9-ol (1,5%); kusunol (1,4%); selina-2,11-dien-14-ol
(1,0%); guaia-1(10),11-dien-15-oic acid (1,0%); selina-3,11-dien-9-on (0,8%); jinkoh-eremol
(0,7%); selina-4, 11-dien-14-al (0,7%); dihydrokaranon (0,7%); selina-3,11-dien-14-al (0,6%); 2-
hydroxyguaia-1(10),11-dien-15-oic acid (0,4%); β-agarofuran (0,4%) và nhiều hợp chất khác với
hàm ...