vespa_standard

New Member

Download miễn phí Tiểu luận Vai trò của kinh tế nhà nước với sự phát triển xã hội chủ nghĩa





Theo Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế-xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch đầu tư, báo cáo 4-2008, vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.
Từ năm 2000 đến năm 2003, tỷ trọng này luôn chiếm trên 50%, cụ thể, năm 2000, vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước chiếm 59,14%; năm 2001 chiếm 59,81%; năm 2002 chiếm 57,33% và năm 2003 chiếm 52,9%, và có giảm trong những năm tiếp theo (năm 2004: 48,06%; năm 2005: 47,11% và năm 2006: 46,4%) nhưng vẫn chiếm một phần lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.
 
Tổng lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 theo giá thực tế ước tính đạt 461,9 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn khu vực Nhà nước 200 nghìn tỷ đồng, chiếm 43,3% tổng vốn; vốn khu vực ngoài Nhà nước 187,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,7% ; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 74,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 16% và tăng 17,1%.
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện tăng 88,9%. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2009 theo giá thực tế ước tính tăng 15,3% so với năm 2008 và bằng 42,8% GDP(kế hoạch là 39,5%), trong đó khu vực Nhà nước tăng 40,5%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 13,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 5,8%. chỉ số ICOR lên đến 8 là quá cao, so với mức 6,6 của năm 2008. Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước chiếm 21,8% tổng vốn đầu tư cả nước, đạt 106,8% kế hoạch năm.
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

ng coi vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh là điều mặc nhiên mà phải gắn với việc “sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức quản lý, kinh doanh có hiệu quả, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai trò chủ đạo và chức năng của một công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Các xí nghiệp quốc doanh hoạt động theo nguyên tắc tự chủ kinh doanh, tự trang trải và tích luỹ trong môi trường hợp tác, cạnh tranh; Nhà nước chỉ tài trợ có thời hạn cho một số cơ sở thật sự cần thiết' Kinh tế nhà nước vẫn đóng vai trò "bà đỡ" cho các doanh nghiệp vào những giai đoạn khó khăn, nhất là trong chuyển giao công nghệ, liên doanh góp vốn với nước ngoài.
2.2.1.1 Cơ cấu ngành :
Từ các hình thức sở hữu cơ bản: “sở hữu toàn dân sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức sở hữu kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp “ Các thành phần kinh tế được nêu lên gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước. Thành phần kinh tế hợp tác đã có nhiều thay đổi, phát triển hơn, phù hợp với nguyên tắc hoạt động của thành phần kinh tế tập thể (nói rõ hơn về bản chất sở hữu, bao gồm nhiều hình thức hợp tác đa dạng trong đó hợp tác xã vẫn là hình thức chủ yếu) thành phần kinh tế có vồn đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và ngày càng phát triển hơn trong những năm gần đây bao gồm vốn do nươc ngoài đầu tư vào nước ta 100% hay do liên doanh liên kết. Nhìn chung nền kinh tế Việt Nam có những chuyển biến tích cực, tỷ lênh ngành dịch vụ (42%)và công nghiệp trong GDP tăng lên đáng kể, nông nghiệp có xu hướng giảm. Song cốt lõi vần là công nông và dịch vụ .
2.2.1.2 Kinh tế đối ngoại :
Nước ta đã mở cửa nền kinh tế liên kết với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới với xu hướng ngày càng mạnh mẽ. Hoạt động xuất nhập khẩu phát triển khá nhanh.
Năm 2007 kim ngạch xuất khẩu của cả nước như sau: Khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt kim ngạch 11,717 tỷ USD chiếm 43,4 % tổng kim ngạch xuất khảu của cả nước ( cùng kỳ năm 2006, tỷ lệ này là 41,9%) khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt kim ngạch 15,073 tỷ USD, chiếm 46,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.Tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 32,243 tỷ USD, tăng 29,8% so với cùng kỳ năm trước( cùng kỳ năm 2006 đạt 24,77 tỷ USD tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2006) Riêng tháng 7 đạt 5,05 tỷ USD, tiếp tực tăng so với tháng 6 năm 2007. Trong đó kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 20,823 tỷ USD, tăng 31,8% so với cùng ký năm 2006, chiếm tỷ trọng 64,6% tổng kim ngach nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu từ nước ngoài đạt 11,42 tỷ USD, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm 2006, chiếm 35,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước ( cùng kỳ năm 2006 đạt 9 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 36,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước , tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2005)
Tổng xuất nhập khẩu hàng hóa trong năm 2008 đặt 143,4 tỷ USd tăng 28,9% so với năm 2007, trong đó xuất khảu đạt 62,69 % tỷ USD tăng29,1% so với năm trước, vượt 7% kế hoạch năm và nhập khẩu là 80,71 tỷ USD ,tăng 28,8% thấp hơn tốc độ tăng xuất khẩu. Hết tháng 12 năm 2008 nhập siêu của Việt Nam là 18,03 tỷ USD đạt con số kỷ lục từ trước tới nay, tăng 27,7% so với con số 14,12 tỷ USD của năm 2007. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá trong năm 2008 đạt 143,4 tỷ USD, tăng 28,9% so với năm 2007, trong đó xuất  khẩu đạt 62,69 tỷ USD, tăng 29,1% so với năm trước, vượt 7% kế hoạch năm và nhập khẩu là 80,71 tỷ USD, tăng 28,8%, thấp hơn tốc độ tăng xuất khẩu.
Theo Bộ Kế hoạch – Đầu tư, kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2009 ước đạt 56,7 tỷ USD giảm 9,5% so với năm 2008, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 68,7 tỷ USD giảm 14,9%so với năm 2008. Tỷ trọng nhập siêu của Việt Nam năm 2009 chiếm 21,1% kim ngạch xuất khẩu. Tỷ lệ này cho thấy, Việt Nam không đạt mục tiêu đề ra là nhập siêu phải có tỷ trọng dưới 20% so với tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. So với năm 2008, một số mặt hàng công nghiệp nhập khẩu chủ yếu tăng mạnh như phân bón, nhập 4,3 triệu tấn tăng gần 42%, chất dẻo nguyên liệu nhập 2,2 triệu tấn, tăng 25,8%; sợi các loại nhập 495 nghìn tấn, tăng 19,5%; sắt thép nhập 9,6 triệu tấn, tăng 13,8%, máy vi tính và linh kiện điện tử, đạt kim ngạch tới 3,9 tỷ USD tăng 5,8%; dược phẩm nhập trên 1 tỷ USD tăng 27%...
Theo báo cáo công bố tình hình kinh tế xã hội tháng 3 và Quý I năm 2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại cuộc họp Báo Chính phủ ngày 1/4/2010, mặc dù đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhưng trong quý I/2010 nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục đà phục hồi của những quý cuối năm 2009 với tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước đạt 5,83%, gấp gần 1,9 lần tốc độ tăng trong quý I/2009. Đáng chú ý là sự phục hồi diễn ra ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế then chốt:
Tổng kim ngạch xuất khẩu: Quý I/2010 ước đạt 14,01 tỷ USD, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2009; trong đó kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 6,68 tỷ USD, tăng 40,5%. Riêng yếu tố tăng giá làm tăng kim ngạch xuất khẩu khoảng 1 tỷ USD. Nếu loại trừ yếu tố tăng đột biến xuất khẩu vàng Quý I/2009, kim ngạch xuất khẩu 3 tháng đầu năm 2010 tăng khoảng 11,9% so với cùng kỳ năm 2009.
Tổng kim ngạch nhập khẩu: Quý I/2010 ước đạt 17,5 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm 2009; trong đó nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI ước đạt 7,1 tỷ USD, tăng 53,1%.
  Nhập siêu Quý I/2010 ước đạt 3,5 tỷ USD, bằng 25% so với tổng kim ngạch xuất khẩu.
     Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn vừa có tính trước mắt vừa có tính lâu dài. Chất lượng, hiệu quả tăng trưởng hạn chế, sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của nhiều ngành, nhiều loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ còn thấp. Một số cân đối kinh tế vĩ mô chưa được cải thiện đáng kể, thiếu tính bền vững, nhất là cân đối xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, cân đối thu chi ngân sách Nhà nước, cân đối vốn đầu tư phát triển, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao (Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm 2010 tăng 0,75% so với tháng 2 năm 2010. So với tháng 12/2009, chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2010 tăng 4,12%. Chỉ số giá Quý I năm 2010 tăng 8,51% so với cùng kỳ năm 2009).
Các mặt hàng xuất khẩu nước ta vẫn ở dạng thô, giá trị thấp, sức cạnh tranh kém, các doanh nghiệp nhập khẩu nhiều do hệ thống luật pháp của Việt Nam còn nhiều thiếu sót, các doanh nghiệp Việt Nam chưa làm tốt công tác xúc tiến thương mại, chưa có chiến lược xuất khẩu dài hạn ổn định lâu dài, thương mại điện tử còn chưa phát triển mạnh điều đó hạn chế khả năng tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới của các doanh nghiệp Việt Nam, đòi hỏi Nhà nước phải có giải pháp trong quá trình hội nhập sao cho thu được nhiều hiệu quả tốt.
2.2.2 Những biểu hiện về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước :
2.2.2.1 Là lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản l
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top