sokola_minjangry
New Member
Download miễn phí Luận văn Việc làm và thu nhập ở nông thôn huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP Ở NÔNG THÔN 6
1.1. Việc làm, thu nhập và đặc điểm của việc làm, thu nhập ở nông thôn 6
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập ở nông thôn 22
1.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm và thu nhập ở nông thôn một số huyện 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP Ở NÔNG THÔN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HOÁ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NAY 47
2.1. Đặc điểm giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động nông thôn huyện Nông Cống 47
2.2. Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm và thu nhập ở nông thôn huyện Nông Cống từ năm 1996 đến nay 73
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP Ở NÔNG THÔN HUYỆN NÔNG CỐNG TRONG THỜI GIAN TỚI 85
3.1. Phương hướng giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập 85
3.2. Các giải pháp chủ yếu đảm bảo việc làm và tăng thu nhập của người dân nông thôn huyện Nông Cống trong thời gian tới. 89
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-03-13-luan_van_viec_lam_va_thu_nhap_o_nong_thon_huyen_no.nnxmiuJZFA.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-63335/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
t phi nông nghiệp chiếm 27,75% tương ứng với 7952,94ủtong đó đất chuyên dụng chiếm 3592,86 ha, đất ở chiếm 2197,82ha. Hiện còn 9,85% đất chưa sử dụng, tương ứng với 2824,27 ha.Đất đai của Nông Cống bao gồm các loại: phù sa không được bồi hàng năm, đất mặn ít và đất đồi núi. Nhìn chung đất đai của Nông Cống thích hợp với cây trồng nông nghiệp hàng năm và lâu năm, tạo điều kiện cho huyện có thể phát triển một nền nông nghiệp trồng cây đa canh.
Theo bản “Điều tra, nghiên cứu bổ sung xây dung bản đồ thổ nhưỡng”, đất đai của huyện Nông Cống có các loại như sau:
- Đất phù sa bão hoà bazơ: có diện tích là 820 ha, nằm ngoài triền đê của các con sông, thuộc địa bàn các xã: Tân Thọ, Tân Khang, Tế Tân, Tế Thắng, Tế Nông, Minh Khôi, Thăng Thọ, Trường Minh. Địa hình cao, độ xốp khá, thành phần cơ giới nhẹ, mùa đông thường hay bị khô hạn. Loại đất này thích hợp cho việc trồng các loại cây ngắn ngày như lạc, đậu đỗ, ngô, khoai lang.
- Đất phù sa bão hoà bazơ kết von nông: Có diện tích là 420 ha, nằm dọc theo sông hay các dải đất cao trong đồng, địa hình vàn, vàn cao. Đây là loại đất thịt và đất thịt nhẹ, hàm lượng dinh dưỡng khá, phù hợp với một số loại cây trồng ngắn ngày như lạc, đậu đỗ và rau màu.
- Đất mặn điển hình glây nông: Có diện tích 400ha, phân bố dọc theo sông Yên và sông Thị Long thuộc đại bàn xã Trường Giang, Trường Sơn, Tượng Văn…, Địa hình thấp trũng, bị nhiễm mặn bởi nước ngầm, thuộc loại đất thịt từ trung bình đến nặng, thường bị lầy thụt khi ngập nước, phù hợp với các loại cây cói, sú, vẹt và nuôi trồng thuỷ sản.
- Đất phù sa lầy bão hoà bazơ: diện tích 700 ha, phân bố tại vùng thấp trũng, độ no bazơ cao, thường dùng để cấy một vụ lúa chiêm, tiêu nước kém. Là loại đất thịt từ trung bình đến nặng, hàm lượng đạm và lân giàu nhưng cùng kiệt kali. Phân bố tại các xã: Thọ Bình, Trường Minh, Trường Giang, Tượng Văn, vùng đầm lầy Minh Thọ.
- Đất phù sa chua glây nông: Có diện tích 8300 ha, phân bố ở vùng địa hình thấp và vàn thấp. Hàm lượng mùn đạt khá, lân nghèo, Kali trung bình đến nghèo. Cây trồng chủ yếu trên loại đất này là lúa, trồng 2 vụ/năm.
- Đất phù sa chua kết von nông: Diện tích vào khoảng 2800 ha, nằm ở địa hình cao, thoát nước tốt, thành phần cơ giới là thịt nhẹ đến cát pha, kết cấu kém, rời rạc. Đất này thường bố trí 3 vụ: 2 lúa 1 màu, hay 2 màu 1 lúa.
- Đất phù sa biến đổi cơ giới li mon: Diện tích 2500 ha, có nguồn gốc là đất phù sa hình thành trên vùng tiếp giáp giữa trung du với đồng bằng, lớp mặt rời rạc khi khô và chặt khi gặp nước. Rất cùng kiệt dinh dưỡng, thiếu vi lượng. Đất này cần bố trí trồng các cây họ đậu trong cơ cấu mùa vụ, các giống cây trồng cạn có quả, củ để tăng độ phì cảI tạo đất.
- Đất xám frtalit kết von sâu: Diện tích 1070 ha, hình thành vùng đồi phù sa cổ, tiếp giáp vùng núi, đồng bằng, thành phần cơ giới thịt nặng, tầng dầy trên 50 cm, kết von trên 15%. Loại đất này thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp lâu năm như: dứa, chè, hay các loại cây chịu hạn giỏi như ngôn, kê.
- Đất đỏ vàng trên macma bazơ trung tính: Diện tích 1500 ha, nằm ở các dãy đồi (Thăng Long, Công Liêm, Tượng Sơn, Yên Mỹ). Loại đất này thích hợp với các loại cây trồng như chè, càphê, cao sau, mía. Hình thành trên địa hình đồi thấp, dốc thoải, tầng đất dầy, thịt trung bình, mịn, kết cấu viên, giàu độ mùn. Loại thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày, cây ăn quả.
- Đất xám Feralit lẫn đá nông: Diện tích 2000 ha nằm ở các đồi núi thấp thuộc xã Công Chính, Công Bình và một số núi lẻ khác. Loại đất này có độ xói mòn trung bình, rất chua, thích hợp với trồng các loại cây công nghiệp dài ngày như cà phên, chè, dứa và các loại cây ăn quả lâu năm. Trên diện tích các loại đất này nen bố trí trồng rừng đẻ tăng độ che phủ đất, chống xói mòn.
- Đất xói mòn trơ sỏi đá: Tầng đất mỏng dưới 30 cm gặp đá ong dày phân bố ở các xã Trường Sơn, Công Chính, Tượng Sơn, Tượng Trung, Tượng Lĩnh. Loại đất này chủ yếu dụn đẻ trồng cây lâm nghiệp, cần bố trí các loại cây chịu hạn tốt như cây thông, các loại cây phòng hộ, che phủ đất chống xói mòn như keo tai tượng, keo lá chàm…
Nhìn chung, tài nguyên đất của Nông Cống là đa dạng và phong phú, thích hợp cho việc phát triển một nên nông nghiệp đa canh. Đây là một thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, mặt khác sự đa dạng này cũng hạn chư việc phát triển nền công nghiệp cần nguyên liệu tại đại phương trên quy mô lớn.
+ Tài nguyên khoáng sản
Bên cạnh nguồn tài nguyên đất đa dạng và phong phú, Nông Cống cũng có một số khoảng sản có trữ lượng đáng kể, tạo nền tảng cho ngành công nghiệp khai thác tại địa phương. cụ thể là:
- Nguyên liệu luyện kim:
Nông Cống có 4 khoáng sản kim loại trên địa bàn với trữ lượng khá, đó là mỏ Crômit Cổ Định chạy dọc theo núi Nưa. Đây là một mỏ có trữ lượng lớn nhất ở VIệt Nam, chừng 28 triệu tấn, chất lượng quặng sau khi tuyển tốt: Crômit đạt 46,0-47,0%, hiện đang được khai thác để phục vụ công nghiệp luyện kim; Mỏ Nilen-Coban Bãi áng đã thăm dò xong. Theo đánh giá ban đầu trữ lượng của mỏ này là khoảng 55.557 tấn, 5 điểm quặng sắt cũng đã khảo sát để làm phụ gia xi măng tại xã Tượng Sơn, với trữ lượng ban đầu là 485.186 tấn, ngoài ra mới phát hiện được mỏ sắt tại Thông Thị Long xã Tuợng Sơn với trữ lượng ban đầu đánh giá là 606.800 tấn; Mỏ Secpenttin Bãi áng trữ lượng 15,354 triệu tấn, hiện nay đang được khai thác phục vụ cho sản xuất phân lân nung chảy hàm lượng MgO đạt 34%, SiO đạt 38%
- Khoáng sản phục cho nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng
Mỏ đất sét làm gạch ngói Cầu Vạy, Trữ lượng khoảng 32.800 m3; mỏ đá vôi thuộc Yên Thái với diện tích 2-3km3. Đá có màu xám sáng, xám xanh loang lổ, kết cấu dạng khối tới phân lớp dầy, nhiều nứt nẻ, hạt từ trung đến mịn. Trữ lượng khoảng 1,5-2 trăm triệu tấn, là vùng phụ vụ nguyên liệu cho phát triển ngành xi măng.
Huyện Nông Cống được đánh giá là huyện có nguồn tài nguyên khoáng sản chiếm ưu thế trong toàn tỉnh tạo điều kiện cho phát triển các ngnàh công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng. Đặc biệt là các mỏ Cromit, phụ gia ximăng, Secpentin có trữ lượng lớn. Do đó, nếu được quản lý và khai thác tốt thì chúng sẽ có giá trị kinh tế cao phục vụ cho công nghiệp luyện kim, sản xuất phân bón, cung cấp nguồn phụ gia ximăng không chỉ cho điạ phương, trung ương mà còn là một nguồn xuất khẩu có giá trị.
+ Tài nguyên nước
Nông Cống có một hệ thống sông ngòi tự nhiên và nhiều hồ chứa nước, bên cạnh đó lượng mưa hàng năm lại lớn do đó huyện có nguồn nước mặt dồi dào. Mỗi năm tổng lượng nước do các dòng chảy của sông ngòi cung cấp trung bình là 1 tỷ m3, trong đó lượng nước mưa trên địa bàn là 400 triệu m3, nếu được điều tiết tốt có thể thoả mãn nhu cầu sản xuất và đời sống. Nguồn nước mặt chủ yếu là do các sông Yên, sông Nhơm, sông Hoàng, sông Thị Long, sông Mực, hồ Yên Mỹ cung cấp....