phu_cuong

New Member

Download miễn phí Báo cáo Thực trạng kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kinh doanh tại Công ty dịch vụ và thương mại TSC





Khi có TSCĐ mới đưa vào sử dụng,doanh nghiệp phải lập hội đồng giao nhận gồm có bên thay mặt bên giao, thay mặt bên nhận và một số uỷ viên để lập "Biên bản giao nhận TSCD" cho từng đối tượng TSCĐ.
Đối với những TSCĐ cùng loại, giao nhận cùng một lúc, do cùng một một đơn vị chuyển giao có thể lập chung một biên bản. Sau đó phòng kế toán phải sao lục cho từng đối tượng ghi TSCĐ một bản để lưu vào hồ sơ riêng cho từng TSCĐ. Mỗi bộ hồ sơ TSCĐ bao gồm: " biên bản giao nhận TSCĐ", hợp đồng, hoá đơn mua TSCĐ, các bản sao tài liệu kỹ thuật và các chứng từ khác có liên quan. Căn cứ vào hồ sơ TSCĐ, kế toán mở thẻ TSCĐ để theo dõi chi tiết từng TSCĐ của doanh nghiệp. Thẻ TSCĐ do kế tóan TSCĐ lập, kế toán trưởng ký xác nhận. Thể này được lưu ở phòng kế toán trong suốt quá trình sử dụng TSCĐ. Khi lập xong, thẻ TSCĐ được sử dụng để ghi vào " sổ tài sản cố định", sổ này được lập chung cho toàn bộ doanh nghiệp một quyển và từng đơn vị sử dụng mỗi nơi một quyển.
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


- Là cơ sở để tổ chức quản lý TSCĐ.
- Xác định chính xác giá trị của TSCĐ.
- Xác định chính xác chi phí sử dụng TSCĐ.
+ Phân loại theo cách hình thành TSCĐ:
TSCĐ được hình thành theo nhiều cách khác nhau:
* TSCĐ do doanh nghiệp tự mua sắm: là những tài sản mà doanh nghiệp tự mua sắm bằng nguồn vốn chủ sử hữu hay bằng nguồn vốn vay.
* TSCĐ là sản phẩm XDCB hoàn thành: là những tài sản hình thành từ những hoạt động đầu tư DXCB.
* TSCĐ được hình thành do trao đổi: là những TSCĐ được hình thành là do doanh nghiệp trao đổi với các đối tượng khác bằng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ hay bằng các tài sản khác không phải là tiền.
- ý nghĩa: là cơ sở để xác định đúng nguyên giá của TSCĐ.
+ Phân loại theo công dụng của TSCĐ:
Theo cách phân loại này TSCĐ của doanh nghiệp được phân thành:
*TSCĐ đang dùng: là những tài sản đang được sử dụng cho hoạt động nhất định trong doanh nghiệp, bao gồm:
- TSCĐ đang sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh: là những tài sản được sử dụng trong các khâu của quá trình sản xuất sản phẩm, kinh doanh hàng hoá hay cung cấp dịch vụ. Đây là bộ phận TSCĐ có liên quan trực tiềp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
- TSCĐ đang sử dụng cho hoạt động XDCB, bộ phận tài sản này không ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
- TSCĐ sử dụng cho hoạt động sự nghiệp hay dự án khác
- TSCĐ sử dụng cho hoạt động phúc lợi.
* TSCĐ không cần dùng: là những tài sản đã hư hỏng hay không còn phù hợp với chức năng hoạt động của doanh nghiệp đang chờ làm thủ tục thanh lý, nhượng bán, hay chuyển cho đơn vị khác.
* TSCĐ giữ hộ: là những tài sản mà doanh nghiệp làm nhiệm vụ giữ hộ cho đơi vị khác.
* ý nghĩa:
- Là cơ sở để xác định chính xác vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tạo điều kiện để phân tích tình hình và hiệu quả sử dụng TSCĐ.
- Là cơ sở để tính và xử lý hao mòn TSCĐ.
+ Phân loại theo nguồn vốn để hình thành TSCĐ:
* TSCĐ được hình thành bằng nguồn vốn chủ sở hữu: là những tài sản do doanh nghiệp mua sắm, nhận vốn góp liên doanh, XDCB hoàn thành, được biếu tăng, viện trợ không hoàn lại,... , loại này được chi tiết như sau:
- TSCĐ hình thành từ nguồn vốn kinh doanh: đây là những tài sản được mua sắm bằng tiền lấy từ nguồn vốn kinh doanh, trong trường hợp này TSCĐ của doanh nghiệp tăng lên đồng thời với sự giảm đi của TSLĐ, còn nguồn vốn kinh doanh thì không thay đổi.
- TSCĐ hình thành từ nguồn vốn khấu hao: thực chất của nguồn vốn khấu hao là một bộ phận của nguồn vốn kinh doanh, tuy nhiên trong trường hợp này, TSCĐ tăng lên đồng thời với sự giảm xuống của nguồn vốn khấu hao.
- TSCĐ hình thành từ nguồn vốn chuyên dùng: trong trường hợp này TSCĐ tăng lên là do TSLĐ giảm và đồng thời nguồn vốn chuyên dùng giảm, nguồn vốn kinh doanh hay vốn, quỹ chuyên dùng đã hình thành TSCĐ tăng.
- TSCĐ tiếp nhận từ đơi vị khác góp liên doanh: trong trường hợp này đối tác liên doanh trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp.
- TSCĐ nhận lại từ đơn vị tổ chức liên doanh.
- TSCĐ được nhà nước cấp: đây là trường hợp nhà nước cấp vốn cho DNNN trực tiếp bằng TSCĐ, TSCĐ tăng đồng thời với nguồn vốn chủ sở hữu tăng.
- TSCĐ được biếu tặng, viện trợ không hoàn lại: TSCĐ tăng đồng thời với nguồn vốn chủ sở hữu tăng.
* TSCĐ hình thành từ nguồn vốn vay, nợ dài hạn
* ý nghĩa: là cơ sở để phân tích tình hình đảm bảo vốn cố định của doanh nghiệp.
*Xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu quản lý TSCĐ trong quá trình sử dụng, TSCĐ được đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn lại.
+ Nguyên giá TSCĐ.
* Nguyên giá là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được TSCĐ tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng theo dự tính.
* Nguyên giá TSCĐ được xác định theo từng truờng hợp cụ thể, như sau:
- TSCĐ mua sắm: Nguyên giá TSCĐ mua sắm bao gồm giá mua( trừ các khoản được chiết khấu thương mại, giảm giá), các khoản thuế( không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng theo dự tính.
- TSCĐ mua trả chậm, trả góp: Trường hợp TSCĐ mua với hình thức trả chậm, trả góp, nguyên giá TSCĐ đó được xác định theo giá mua trả ngay tại thời điểm mua. Khoản chênh giữa giá mua trả chậm và giá mua trả ngay được hạch toán vào chi phí theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính vào nguyên giá của TSCĐ theo quy định của chuẩn mực " chi phí đi vay".
- TSCĐ mua dưới hình thức trao đổi:
+ TSCĐ mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ tương tự, hay có thể hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài sản tương tự. Nguyên giá của TSCĐ nhận về được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ đem đi trao đổi.
+ TSCĐ mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ không tương tự hay tài sản khác được xác định theo giá trị hợp lý của TSCĐ nhận về, hay giá trị hợp lý của TSCĐ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hay tương đương tiền trả thêm hay thu về.
- TSCĐ đựoc nhà nước cấp hay được tặng, biếu: nguyên giá được xác định theo giá trị hợp lý ban đầu cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp tới việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng theo dự tính.
- Đối với TSCĐHH được hình thành do đầu tư DXCB theo cách giao thầu: nguyên giá là giá quyết toán công trình đầu tư xây dựng, các chi phí liên quan trực tiếp khác và lệ phí trước bạ (nếu có).
- TSCĐHH tự xây dựng hay tự chế: Nguyên giá là giá thành thực tế của TSCĐ tự xây dựng hay tự chế cộng (+) chi phí lắp đặt hay chạy thử. Trường hợp doanh nghiệp sử dụng sản phẩm do mình tạo ra để chuyển thành TSCĐ thì nguyên giá là chi phí sản xuất ra sản phẩm đó cộng (+) các chi phí trực tiếp liên quan đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Trong các trường hợp trên các khoản lãi nội bộ không được tính vào nguyên giá của TSCĐ, các chi phí không hợp lý không được tính vào nguyên giá của TSCĐHH.
- TSCĐVH là quyền sử dụng đất có thời hạn: là giá trị quyền sử dụng đất khi được giao đất hay số tiền phải trả khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác, hay giá trị quyền sử dụng đất nhận góp vốn liên doanh.
+ Giá trị còn lại của TSCĐ:
* Giá trị còn lại của TSCĐ là nguyên giá của TSCĐ sau khi đã trừ (-) số khấu hao luỹ kế của tài sản đó.
Giá trị còn lại = Nguyên giá - giá trị hao mòn luỹ kế
Trường hợp nguyên giá TSCĐ được đánh giá lại thì giá trị còn lại của TSCĐ cũng được xác định lại.
Thông thường giá trị còn lại của TSCĐ sau khi đánh giá lại được điều chỉnh theo công thức:
Giá trị còn lại của Giá trị còn lại Giá trị đánh giá lại củaTSCĐ
TSCĐ sau khi = của TSCĐ x
đánh giá lại đánh giá lại Nguyên giá của TSCĐ
Ngoài phương pháp chuẩn nói trên, ở chuẩn mực 16(IAS 16) còn quy định phương pháp thay thế được chấp nhận:
Giá trị còn lại = Giá trị đánh giá lại - hao mòn luỹ k
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top