[email protected]
New Member
Download miễn phí Luận văn Cảm hứng yêu nước trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm
MỤC LỤC
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1.1 TÁC GIẢ 1
1.1.1 Cuộc đời 1
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 2
1.2 TÁC PHẨM 4
1.2.1 Hoàn cảnh sáng tác 4
1.2.2 Chủ đề tác phẩm 6
CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỂU HIỆN YÊU NƯỚC TRONG BÀI
“BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG” CỦA HOÀNG CẦM
2.1 TINH THẦN YÊU NƯỚC THÔNG QUA
TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC 7
2.2 TINH THẦN YÊU NƯỚC THÔNG QUA
NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG 10
2.3 TINH THẦN YÊU NƯỚC THÔNG QUA
NIỀM TIN CHIẾN THẮNG 18
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-29-luan_van_cam_hung_yeu_nuoc_trong_bai_ben_kia_song.eSCkhjc4Mq.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-57170/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
ơ, 1959), Lá Diêu Bông (thơ, 1993), Đến từ hư không (thơ, 2000).Làm thơ từ năm 8 tuổi. Dưới thời Pháp thuộc, 15 tuổi, Hoàng Cầm viết kịch thơ Hận Nam Quan.Trưởng thành trong những chặng đường đầy sóng gió của dân tộc rồi gắn cuộc đời mình với những áng văn chương, Hoàng Cầm là thi sĩ tài hoa của đất Quan họ, nhà thơ lớn nhất nhì dòng văn học thế kỷ 20. Một điều đáng tiếc là đến những năm cuối đời, Hoàng Cầm mới được công nhận về gia tài thơ của mình. Ngoài hơn trăm bài thơ lẻ mà phần lớn là những khúc thơ tình phảng phất quan họ, còn có trường ca Tiếng hát “Quan họ” sáng tác năm 1956, được coi như tiền đề của Về Kinh Bắc ra đời mấy năm sau đó, có truyện thơ “Men đá vàng” dành “dâng linh hồn con gái Bùi Hoàng Yến”… Và không thể không kể đến thể loại mà chính ông đã khẳng định đã làm nên tên tuổi, dấu ấn riêng của mình thời kỳ đầu: kịch thơ, trong đó nổi bật nhất, với những câu thơ vượt thời gian trong tác phẩm “Kiều Loan”, tác phẩm gợi lòng yêu nước, kích động sĩ khí, thúc đẩy con người vùng lên chống ngoại xâm.
Trong thời kháng chiến, Hoàng Cầm sáng tác và trình diễn ba bài thơ gây chấn động lòng quân và lòng người: Đêm Liên Hoan, Tâm sự đêm giao thừa và Bên Kia sông Đuống.
Bài "Em bé lên 6 tuổi" (Giai Phẩm Mùa Thu, tập II, tháng 9/1956) là một bài thơ âm thầm gợi lại lòng nhân ái của con người đã mất trong cải cách ruộng đất.
Một trong những bài thơ hay cuối cùng của Hoàng Cầm là bài vô đề.
Sự nghiệp sáng tác và tranh đấu của Hoàng Cầm gói trọn trong hai chữ: Tình yêu. Yêu tự do, yêu nước và và yêu người.
Năm 2007, Hoàng Cầm được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học Nghệ thuật.
2. TÁC PHẨM:
2.1. Hoàn cảnh sáng tác:
Mang trong mình hơi thở vùng đất Kinh Bắc, nhà thơ Hoàng Cầm với Bên kia sông Đuống đã mở ra một thế giới Kinh Bắc, tạo nên dấu ấn đặc sắc, độc đáo cho thơ ông.Tin giặc Pháp chiếm đóng bên kia sông Đuống đến với Hoàng Cầm vào một đêm tháng tư năm 1948 làm ông bàng hoàng, đau đớn. Ngay trong đêm, cảm xúc ấy được tuôn chảy vào bài thơ Bên kia sông Đuống dưới nhiều sắc thái: buồn đau, nhớ nhung, tự hào, tiếc nuối, căm hờn, ước mơ. Và từ dòng cảm xúc chân thành hiện hữu lên vẻ đẹp về một thế giới Kinh Bắc.
“Cô đã nhắc đến bài thơ Bên kia sông Đuống thì tui cũng xin kể luôn về trường hợp tui sáng tác bài thơ này. Đó là dịp đầu năm 1948. Sau tết ta, trời đã chuyển sang tiết xuân nhưng vẫn còn hơi lạnh. tui cùng với Nguyên Hồng, Nguyễn Địch Dũng, Xuân Thu, Hoàng Tích Linh, Kim Lân… đóng ở làng Thượng, huyện Phú Bình,Thái Nguyên.”
Bên kia sông Đuống, dọc theo hữu ngạn là vùng quê tui gồm: Gia Lâm, Lương Tài, Gia Bình, Thuận Thành. Kéo dài một vệt đến tận Phả Lại. Đó là một miền quê thơ mộng, trù phú. Nhưng từ năm 1947, quân Pháp đã tràn lên chiếm đóng, càn quét. Lúc bấy giờ, ông Vương Văn Trà, người cùng làng tui thành lập một tiểu đoàn du kích lấy tên là tiểu đoàn Thiên Đức đánh lại quân Pháp. Do thế địch đang mạnh nên đầu năm 1948 tiểu đoàn phải rút lui lên khu an toàn. Nơi đây, ông Chu Tấn Văn và ông Lê Quảng Ba lúc đó ở Bộ tư lệnh khu XII yêu cầu ông Vương Văn Trà báo cáo tình hình. Hôm đó, tui được mời nghe. Đêm về tui không sao ngủ được.Lòng buồn nôn nao nỗi nhớ tiếc quê hương bị chiếm đóng, tàn phá. Bao tình cảm riêng – chung lẫn lộn cứ trào lên mãnh liệt. Và thế là, trong khi các đồng chí đang ngủ ngon giấc, tui thắp đèn ngồi viết Bên kia sông đuống . tui còn nhớ rất rõ trạng thái xúc cảm của tui khi viết bài thơ này. Dường như tui viết không kịp. Phải cố gắng lắm tui mới theo đuổi được những câu thơ, ý thơ dồn dập, trào lên ngọn bút. Chưa bao giờ tui thấy quê hương lại cụ thể, máu thịt xót xa dường ấy. Toàn thân tui run lên. Những hình ảnh, âm thanh màu sắc dệt nên quê hương thân yêu giờ như chìm trong lửa cháy, nước mắt và trong “ …máu loang chiều mùa đông”. Sau mỗi câu viết ra, tui cảm giác ớn lạnh cả xương sống. Dường như chúng từ đó mà ra. Cứ như thế, cho đến khi tui viết câu thơ cuối cùng “ Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh” thì cũng là lúc trời rạng sáng. Lúc này tui mới thấm mệt nhưng trong lòng lại thấy thanh thản, nhẹ nhõm như vừa được giải tỏa. Thấy Nguyên Hồng có vẻ đã thức giấc, tui gọi anh dậy và đọc bài thơ cho anh nghe. Mới được dăm câu anh đã khóc. Nguyên Hồng vẫn vậy, và cứ thế nức nở cho đến khi tui đọc hết bài thơ. Anh đòi đánh thức cả Nguyễn Địch Dũng, Xuân Thu, Kim Lân dậy để tui đọc lại. Sau đó anh bắt tui chép thành ba bản. Một bản gửi cho báo Cứu quốc, chỗ anh Như Phong và anh Tô Hoài. Một bản gửi cho báo nhân dân. Một bản gửi đến Hội Văn Nghệ, chỗ anh Nguyễn Huy Tưởng. Bài thơ được báo Cứu Quốc in lần đầu tiên khoảng tháng 6/1948. Cho đến giờ, tui vẫn thích phần đầu của bài thơ. Đó là những gam màu hồn nhiên nhất, tươi tắn nhất trong bức tranh quê hương. Đó là những xúc cảm mãnh liệt nhất, trong sáng nhất mà tui dành cho miền đất thân yêu của tôi” [1]
Ông viết như một sự giải tỏa nỗi lòng đang dào dạt những nhớ thương, buồn đau khôn xiết. Có thể rồi dần dà ông sẽ nghĩ tới những điều ấy, nghĩ tới bạn đọc, nhưng đó chắc chắn là chuyện đến sau, còn vào phút ấy, ông phải viết ra ngay những lời như đã ngấp nghé nơi cổ họng, như một tiếng kêu, một tiếng thét bật ra từ sâu thẳm trái tim-thế thôi. tui nghĩ, nếu sau này nhà thơ có kể lại rằng ông đã viết những lời này như sự mách bảo của một thế lực siêu nhân thì thế lực bí mật đó chẳng có gì khác hơn là những cảm xúc, những ý tưởng đã nung nấu đến thành ra máu thịt ở trong ông tự những bao giờ khiến cho chính ông cũng không ngờ tới. Sự thể này trên đời vẫn có lúc xảy ra, mà nhà thơ của chúng ta không phải là trường hợp hy hữu.
2.2. Chủ đề tác phẩm:
Bài thơ thể hiện tình yêu mến, thương nhớ và tự hào đối với quê hương kinh Bắc; căm giận quân xâm lược đang giày xéo quê hương; niềm tin vào một ngày mai giải phóng, quê hương trở lại thanh bình.
Câu thơ dào dạt theo cảm xúc rất hồn nhiên mà giàu nhạc điệu. Nhạc điệu ngọt ngào của dân ca Quan họ. Sâu lắng, thiết tha, bồi hồi là âm hưởng, là sắc điệu trữ tình đã thấm sâu vào hồn ta tình yêu quê hương đất nước.
Bên kia sông Đuống là những dòng tình cảm mãnh liệt nhất , chân thành và trong sáng nhất mà Hoàng Cầm đã dành cho quê hươngyêu dấu của mình , và qua đó đánh thức trong mỗi chúng ta tình yêu quê hương đất nước . Đó là thứ tình cảm thiêng liêng cao cả và gắn bó với chúng ta suốt cuộc đời.
Chương 2
NHỮNG BIỂU HIỆN YÊU NƯỚC TRONG BÀI “BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG” CỦA HOÀNG CẦM
1. Tinh thần yêu nước thông qua truyền thống dân tộc :
Tinh thần yêu nước là giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam ta. Và theo Giáo sư Trần Văn Giàu :“tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam" và “chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại. Ở đây, bản chất Việt Nam ...