p3_ga_ut_kute1810
New Member
Download miễn phí Luận văn Định hướng và giải pháp đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của công ty xi măng Bỉm Sơn
Với chủ trương xây dựng Công ty xi măng Bỉm Sơn của Đảng và Nhà nước thì công việc tiến hành đầu tư sửa chữa, xây dựng lại, được Công ty tiến hành một cách thường xuyên, cũng trong giai đoạn này thì Công ty xi măng Bỉm Sơn không hề có đầu tư chiều sâu hay đầu tư mở rộng quy mô sẩn xuất.
Đối với kế hoạch đầu tư hàng năm của Công ty thì được chia làm ba bộ phận như sau:
- Đầu tư cho xây lắp
- Đầu tư mua sắm thiết bị
- Đầu tư cho chi phí khác.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-03-13-luan_van_dinh_huong_va_giai_phap_dau_tu_nang_cao_c.1P1pXm5ydT.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-63388/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
khối lượng vật liệu xây dựng lớn, góp phần tái kiến thiết đất nước, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các hạng mục công trình khác của đất nước. Có thể thấy trong giai đoạn này, nhà máy xi măng Bỉm Sơn thực sự là một khu công nghiệp đầu đàn trong ngành xây dựng ở Việt Nam và nhà máy đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình ở thời kỳ cơ chế bao cấp.Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanh từ năm 1991 đến nay, Công ty xi măng Bỉm Sơn lại một lần nữa đi tiên phong trong việc thể nghiệm hạch toán sản xuất kinh doanh, độc lập tự chủ trong việc sản xuất vật liệu xây dựng.
Những năm 1991 - 1992 khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông âu tan rã, các chuyên gia Liên Xô rút về nước, nhà máy gặp muôn vàn khó khăn về trang thiết bị, dây chuyền, chuyên gia kỹ thuật … Đây là giai đoạn đầy thử thách gay go của nhà máy. Trước thực trạng đó cán bộ công nhân nhà máy Công ty xi măng Bỉm Sơn lại từng bước tháo gỡ khó khăn, vượt qua thử thách trong sản xuất vững vàng bằng đôi chân công nghiệp của mình trong cơ chế thị trường và đã hoàn toàn làm chủ trong việc sản xuất kinh doanh, đưa Công ty tiến vào thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Hơn 20 năm qua, Công ty xi măng Bỉm Sơn với những thành tựu đạt được, đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu như: Huân chương lao động hạng hai năm 1989, Bộ XD tặng cờ Đơn vị xuất sắc năm 1999 … và nhiều huy hiệu cao quý khác.
Công ty xi măng Bỉm Sơn với những thành tựu đạt được trong hơn 20 năm qua đã chứng minh đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, vai trò to lớn của cán bộ công nhân Công ty. Đồng thời còn thể hiện sức mạnh, sự trưởng thành vững vàng của Công ty trong cơ chế thị trường. Hơn nữa những thành tựu, những kết quả vê kinh tế - xã hội mà Công ty đạt được đã và đang là tiền đề cho sự hội nhập kinh tế của cả nước nói chung và Công ty nói riêng trong khu vực ASEAN và các nước trên thế giới.
Cơ cấu tổ chức của công ty
II. Thực trạng đầu tư và khả năng cạnh tranh của Công ty xi măng Bỉm Sơn.
1. Thực trạng đầu tư của Công ty xi măng Bỉm Sơn.
1.1. Giai đoạn 1982 đến 1995.
Với chủ trương xây dựng Công ty xi măng Bỉm Sơn của Đảng và Nhà nước thì công việc tiến hành đầu tư sửa chữa, xây dựng lại, … được Công ty tiến hành một cách thường xuyên, cũng trong giai đoạn này thì Công ty xi măng Bỉm Sơn không hề có đầu tư chiều sâu hay đầu tư mở rộng quy mô sẩn xuất.
Đối với kế hoạch đầu tư hàng năm của Công ty thì được chia làm ba bộ phận như sau:
- Đầu tư cho xây lắp
- Đầu tư mua sắm thiết bị
- Đầu tư cho chi phí khác.
Trong giai đoạn này công việc lập kế hoạch và quản lý đầu tư là do ban kiến thiết của Công ty đảm nhiệm. Trải qua thời gian dài khi xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp và trước tình hình mới thì ban kiến thiết không còn phát huy được chức năng của mình vì vậy dẫn đến giải tán ban này,
Cho đến nay, việc thu thập và xử lý những số liệu về đầu tư của Công ty trong giai đoạn 1982 - 1996 là rất khó khăn do các nguyên nhân sau:
- Khi giải tán ban kiến thiết thì việc lưu trữ các báo cáo về đầu tư được tiến hành một cách thiêú thận trọng gây lộn xộn trong kho lưu trữ hồ sơ.
- Hàng năm Công ty vẫn tiến hành thiêu huỷ những báo cáo theo quy định của Nhà nước.
- Khi người phụ trách về đầu tư chuyển sang công tác khác thì không bàn giao lại cho nhân sự mới.
- Số liệu về đầu tư trong giai đoạn này còn thấp nên chưa có sự quan tâm đúng mức.
1.2. Giai đoạn 1996 - đến nay.
1.2.1 Đầu tư Tài sản cố định
Giai đoạn này được đánh dấu bằng cơn sốt xi măng cuối năm 1995. Vì vậy Công ty gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tiêu thụ. Mặt khác các thiết bị công nghệ của Công ty đã trải qua 15 năm sản xuất, vận hành bị hư hỏng nhiều, thiếu thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của Công ty trước sự cạnh tranh của xi măng ngoại nhập và sản phẩm xi măng của liên doanh nước ngoài.
Cụ thể việc thực hiện đầu tư theo các bộ phận của Công ty như sau:
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
Xây lắp
1840
2100
2345
3650
4638
5280
4315
Mua sắm thiết bị
1450
1650
1600
2850
4975
32143
3065
Chi phí khác
320
400
400
1727
1100
5290
16236
Tổng số
3610
4150
4345
8236
10713
44282
23643
Tốc độ phát triển định gốc (%)
Năm
1996
97/96
98/96
99/96
2000/96
2001/96
2002/96
Xây lắp
100
114,1
127,4
198,8
252,06
287
234,5
Mua sắm thiết bị
100
113,8
110,3
196,5
343,1
2216,7
211,3
Chi phí khác
100
125
125
539,7
343,7
1653,1
5082,2
Tổng số
100
114,9
120,36
228,1
296,7
1226,6
655
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm Sơn
Qua các bảng trên nhận thấy số vốn đầu tư của Công ty xi măng Bỉm Sơn qua các năm tăng dần. Số vốn đầu tư của năm 1996 là 3610 triệu đồng, năm 1997 là 4150, năm 1998 là 4345 triệu đồng, năm 1999 là 8236 triệu đồng, năm 2000 là 10713 triệu đồng, riêng năm 2001 và năm 2002 số vốn đầu tư của Công ty tăng lên cao là do Công ty tiến hành đầu tư cải tạo hiện đại hoá dây chuyền. Nhờ vậy mà tốc độ tăng trưởng định gốc vốn đầu tư năm 1997 so với năm 1996 là 114,9%, năm 1998 là 120,36%, năm 1999 là 228,1%, năm 2000 là 296,7%, không tính năm 2001 và năm 2002. Tuy nhiên sự tăng lên của vốn đầu tư cho từng bộ phận cũng như tốc độ phát triển định gốc của các bộ phận xây lắp, mua sắm thiết bị, chi phí khác lại không đều. Đối với bộ phận xây lắp, năm 1996 số vốn đầu tư là 1840 triệu đồng, năm 1997 là 2100 triệu đồng, năm 1998 là 2345 triệu đồng, năm 2000 là 4638 triệu đồng, năm 2001 là 5280 triệu đồng và năm 2002 kế hoạch vốn đầu tư cho xây lắp giảm xuống còn 4315 triệu đồng. Như vậy, có thể thấy đối với công tác xây lắp số vốn hàng năm tăng lên một cách đều đặn, từ đó dẫn đến tốc độ phát triển định gốc cũng tăng lên dần năm 1997 là 114,1%, năm 1998 là 127,4%, năm 1999 là 198,8% năm 2000 là 252,06%. Từ đó cho thấy quy mô vốn đầu tư cho công tác xây lắp được chú trọng và quan tâm thích đáng.
Đối với bộ phận mua sắm thiết bị, qua bảng biểu trên ta thấy quy mô vốn đầu tư cho các năm là không đồng đều. Số vốn đầu tư của năm 1996 là 1450 triệu đồng, năm 1997 tăng lên là 1650 triệu đồng, nhưng đối với năm 1998 lại giảm xuống còn là 1600 triệu đồng, và các năm tiếp theo bị tăng lên năm 1999 là 2850 triệu đồng, năm 2000 là 4975 triệu đồng, năm 2001 lại tăng lên 32143 là do Công ty tiến hành hiện đại hoá dây chuyền sản xuất, năm 2002 kế hoạch là 3065. Do vậy mà tốc độ phát triển định gốc của công tác mua sắm thiết bị không đồng đều. Năm 1997 là 113,8%, năm 1998 là 110,3%, năm 1999 là 196,5%, năm 2000 là 343,1%, và năm 2002 là 211,3. Điều này cho thấy Công ty đang từng bước thay thế máy móc thiết bị theo từng thời kỳ để tăng chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của Công ty.
Đối với bộ phận chi phí khác như các chi phí nghiên cứu khả thi, chi phí đấu thầu, chi phí thẩm định … cũng tăng lên làm đáp ứng cho việc lựa chọn và cho phép Công ty khẳng định các quyết định là chính đáng phù hợp với từng giai đ...