anbaconbaba
New Member
[Free] Luận văn Hoàn thiện pháp luật về hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Trải qua hơn 4000 năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu
với nhiều cuộc chiến tranh đểgiữnước, đồng thời phải luôn luôn đấu tranh
với thiên nhiên khắc nghiệt đểtồn tại và phát triển. Quá trình đấu tranh đó đã
hun đúc nên tinh thần, hào khí Việt Nam, tạo nên giá trịtruyền thống dân tộc
Việt Nam hết sức tốt đẹp. Đó là truyền thống đoàn kết bất khuất, kiên cường,
giàu lòng vịtha, giàu lòng nhân ái. Mỗi khi khó khăn, người Việt Nam luôn
luôn bên nhau, kết đoàn thành một khối tạo ra sức mạnh đểvượt qua tất cả
mọi khó khăn, gian khổ. Bởi vậy, có thểnói các tổchức hội ra đời rất sớm, nó
gắn chặt với các việc thiện, gắn chặt với sựtồn tại của các cộng đồng làng xã,
cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng dân tộc.
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
tìm hiểu đầy đủ. Điều này dẫn đến những cách nhìn phiến diện, thiếu tích cực
về vị trí, vai trò của hội trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất
nước. Chính vì vậy, dưới góc độ học thuật, việc nghiên cứu về hội, nhất là
trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, mở rộng dân chủ xã hội và hội nhập quốc tế, thiết nghĩ, là việc làm cần
thiết.
Trong phạm vi của luận văn cao học, nội dung chương I chỉ đề cập
đến những vấn đề cơ bản nhất của hội, trong mối quan hệ với xã hội dân sự,
tổ chức phi chính phủ, theo phương pháp nghiên cứu so sánh thực tiễn Việt
Nam với quan niệm của thế giới. Từ đó, bước đầu phát hiện rằng, hội là một
loại hình của tổ chức xã hội dân sự, mang tính đặc thù của Việt Nam, bao
gồm 4 nhóm: Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng trực thuộc; các hội
nghề nghiệp; các tổ chức phi chính phủ Việt Nam (trừ những tổ chức không
có hội viên như quỹ, trung tâm...); các hội không có tư cách pháp nhân tại
cộng đồng. Hội theo quan niệm của Việt Nam không bao gồm đảng chính trị,
các tổ chức tôn giáo và các tổ chức tội phạm.
So với những vấn đề tranh luận về khái niệm hội trong thời gian qua,
luận văn đưa ra khẳng định một số nội dung sau:
- Thứ nhất, mặc dù gắn bó chặt chẽ với Đảng, Nhà nước, là các tổ
chức chính trị - xã hội ở Việt Nam nhưng 5 tổ chức quần chúng trực thuộc
Mặt trận tổ quốc Việt Nam vẫn được coi là thành phần của xã hội dân sự và là
nhóm lớn nhất trong 4 nhóm của hội. Tuy nhiên, với đặc thù là liên minh
chính trị, bản thân Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lại không được coi là thành
phần của hội.
- Thứ hai, hội phải là tổ chức có hội viên với sự tham gia ít nhất của 3
hội viên chính thức; hội không bao gồm các tổ chức không có quy chế hội
55
viên như quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu... (trừ những quỹ, trung tâm do
chính các tổ chức hội lập ra).
- Thứ ba, hội không chỉ gồm những tổ chức có tư cách pháp nhân mà
còn bao gồm cả những hội không có tư cách pháp nhân tại cộng đồng như:
hội đồng hương, hội khuyến học của dòng họ, hội thả diều ở thôn, xóm...
Cũng qua phân tích tại Chương I, cho thấy, khái niệm về tổ chức phi
chính phủ ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa hẹp; trong mối quan hệ với hội
thì một bộ phận cấu thành của tổ chức phi chính phủ là các tổ chức khoa học
và công nghệ phi lợi nhuận cũng được xếp loại là một trong những nhóm của
hội.
Tóm lại, dựa trên cách tiếp cận so sánh, Chương I của luận văn đã làm
sáng tỏ những vấn đề lý luận về hội, làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng
pháp luật về hội và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về hội ở Việt Nam
trong những chương tiếp theo.
56
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HỘI Ở VIỆT NAM
Trải qua hơn 4000 năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu
với nhiều cuộc chiến tranh để giữ nước, đồng thời phải luôn luôn đấu tranh
với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển. Quá trình đấu tranh đó đã
hun đúc nên tinh thần, hào khí Việt Nam, tạo nên giá trị truyền thống dân tộc
Việt Nam hết sức tốt đẹp. Đó là truyền thống đoàn kết bất khuất, kiên cường,
giàu lòng vị tha, giàu lòng nhân ái. Mỗi khi khó khăn, người Việt Nam luôn
luôn bên nhau, kết đoàn thành một khối tạo ra sức mạnh để vượt qua tất cả
mọi khó khăn, gian khổ. Bởi vậy, có thể nói các tổ chức hội ra đời rất sớm, nó
gắn chặt với các việc thiện, gắn chặt với sự tồn tại của các cộng đồng làng xã,
cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng dân tộc.
Sách “Vai trò của các hội trong đổi mới và phát triển đất nước” đã
phân chia lịch sử phát triển hội ở Việt Nam theo theo ba phân kỳ lịch sử : thời
trung đại (bao gồm cả xã hội theo cách sản xuất châu Á và xã hội
phong kiến, tức đến đầu thế kỷ XIX); thời kỳ xã hội nửa thực dân phong kiến;
và thời kỳ xã hội mới từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay.
- Thời phong kiến, các hội ra đời và hoạt động từ đơn giản đến phức
tạp. Có loại xuất phát từ một dòng họ, hay vài dòng họ như phe, giáp. Có loại
xuất phát từ việc thiện mà lập ra các quỹ, các hội, ví dụ như Hội hiếu, Hội hỷ,
quỹ nghĩa điền, quỹ nghĩa thương, quy mô của các loại Hội này thường bó
hẹp trong một cộng đồng làng, xã... Ở thời kỳ này, bên cạnh các Hội tập hợp
việc thiện, theo dòng họ đã tiến lên tập hợp theo ngành nghề, công việc,
chẳng hạn như: Hội phường vải, phường nón, mộc, Hội tương thân...; tập hợp
theo giới như : phụ lão, nhi đồng...; tập hợp theo tôn giáo tín ngưỡng như :
Hội thờ thánh quan, Hội thờ đức Thánh Trần...; tập hợp theo văn hoá, nghệ
57
thuật như: Hội đồng môn, Hội tử văn, Hội tử võ, Hội chèo, Hội vật, Hội cờ,
Hội bơi thuyền, Hội chọi gà, Hội chơi chim bồ câu...
Nhà nước phong kiến của hầu hết các triều đại tuy chưa quan tâm đặt
ra các quy định cụ thể việc quản lý các hoạt động của các hội nhưng cũng đã
để ý tới khía cạnh khai thác các khả năng đóng góp của các hội với triều đình.
Nhà nước phong kiến, giao cho các quan lại địa phương phải thu nạp các sản
vật mà các thợ khéo làm ra nộp về triều đình. Mặt khác, mỗi khi có thiên tai,
địch hoạ thì phải biết huy động các hội tham gia uý lạo dân chúng. Thời kỳ
này, xã hội Việt Nam là xã hội nông nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp làm
chính, gần như cả dân tộc sống bằng nghề nông, do đó các làng xã đã lập ra
các quỹ ruộng, quỹ thóc để trợ cấp cho bà goá, con côi, hay lập ra nghĩa điền
là loại quỹ do những người hảo tâm tặng, cấp để giúp đỡ những người cùng kiệt
khó... Các loại quỹ này, cùng với các hội kể trên đã ít nhiều góp phần cùng
với các chính sách tiến bộ của các triều đại phong kiến như "khoan sức dân"
đem lại sự ổn định về đời sống cho nhân dân.
- Thời kỳ phong kiến, thực dân là thời kỳ đấu tranh dân tộc và đấu
tranh giai cấp rất sôi động. Nhận thấy vai trò quan trọng trong tập hợp quần
chúng của các hội, giai cấp thống trị cũng lập ra các hội để phục vụ mục đích
thống trị của chúng. Thời kỳ này, có thể chia thành hai hệ thống hội quần
chúng, đó là hội quần chúng của nhân dân lao động và cách mạng, hội quần
chúng của giai cấp thống trị.
Hội của nhân dân lao động yêu nước và cách mạng được sáng lập do
nhu cầu bảo vệ quyền lợi của mình trước sự áp bức của giai cấp thống trị. Lúc
đầu vẫn là tập hợp theo giới, ngành, sở thích mang tính truyền thống đã có,
nhưng lúc này phạm vi hoạt động không bó hẹp ở làng, xã, phường mà đã mở
rộng ở phạm vi hàng tỉnh, liên tỉnh, khu vực và toàn quốc. Phát triển hơn, các
hội chính trị ra đời, đây là nơi các lãnh tụ cách mạng tập hợp và giáo dục
chính trị cho quần chúng, đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng
áp bức. T...
Download Luận văn Hoàn thiện pháp luật về hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay miễn phí
Trải qua hơn 4000 năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu
với nhiều cuộc chiến tranh đểgiữnước, đồng thời phải luôn luôn đấu tranh
với thiên nhiên khắc nghiệt đểtồn tại và phát triển. Quá trình đấu tranh đó đã
hun đúc nên tinh thần, hào khí Việt Nam, tạo nên giá trịtruyền thống dân tộc
Việt Nam hết sức tốt đẹp. Đó là truyền thống đoàn kết bất khuất, kiên cường,
giàu lòng vịtha, giàu lòng nhân ái. Mỗi khi khó khăn, người Việt Nam luôn
luôn bên nhau, kết đoàn thành một khối tạo ra sức mạnh đểvượt qua tất cả
mọi khó khăn, gian khổ. Bởi vậy, có thểnói các tổchức hội ra đời rất sớm, nó
gắn chặt với các việc thiện, gắn chặt với sựtồn tại của các cộng đồng làng xã,
cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng dân tộc.
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
há nhạy cảm, nên chưa được nghiên cứu,tìm hiểu đầy đủ. Điều này dẫn đến những cách nhìn phiến diện, thiếu tích cực
về vị trí, vai trò của hội trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất
nước. Chính vì vậy, dưới góc độ học thuật, việc nghiên cứu về hội, nhất là
trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, mở rộng dân chủ xã hội và hội nhập quốc tế, thiết nghĩ, là việc làm cần
thiết.
Trong phạm vi của luận văn cao học, nội dung chương I chỉ đề cập
đến những vấn đề cơ bản nhất của hội, trong mối quan hệ với xã hội dân sự,
tổ chức phi chính phủ, theo phương pháp nghiên cứu so sánh thực tiễn Việt
Nam với quan niệm của thế giới. Từ đó, bước đầu phát hiện rằng, hội là một
loại hình của tổ chức xã hội dân sự, mang tính đặc thù của Việt Nam, bao
gồm 4 nhóm: Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng trực thuộc; các hội
nghề nghiệp; các tổ chức phi chính phủ Việt Nam (trừ những tổ chức không
có hội viên như quỹ, trung tâm...); các hội không có tư cách pháp nhân tại
cộng đồng. Hội theo quan niệm của Việt Nam không bao gồm đảng chính trị,
các tổ chức tôn giáo và các tổ chức tội phạm.
So với những vấn đề tranh luận về khái niệm hội trong thời gian qua,
luận văn đưa ra khẳng định một số nội dung sau:
- Thứ nhất, mặc dù gắn bó chặt chẽ với Đảng, Nhà nước, là các tổ
chức chính trị - xã hội ở Việt Nam nhưng 5 tổ chức quần chúng trực thuộc
Mặt trận tổ quốc Việt Nam vẫn được coi là thành phần của xã hội dân sự và là
nhóm lớn nhất trong 4 nhóm của hội. Tuy nhiên, với đặc thù là liên minh
chính trị, bản thân Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lại không được coi là thành
phần của hội.
- Thứ hai, hội phải là tổ chức có hội viên với sự tham gia ít nhất của 3
hội viên chính thức; hội không bao gồm các tổ chức không có quy chế hội
55
viên như quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu... (trừ những quỹ, trung tâm do
chính các tổ chức hội lập ra).
- Thứ ba, hội không chỉ gồm những tổ chức có tư cách pháp nhân mà
còn bao gồm cả những hội không có tư cách pháp nhân tại cộng đồng như:
hội đồng hương, hội khuyến học của dòng họ, hội thả diều ở thôn, xóm...
Cũng qua phân tích tại Chương I, cho thấy, khái niệm về tổ chức phi
chính phủ ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa hẹp; trong mối quan hệ với hội
thì một bộ phận cấu thành của tổ chức phi chính phủ là các tổ chức khoa học
và công nghệ phi lợi nhuận cũng được xếp loại là một trong những nhóm của
hội.
Tóm lại, dựa trên cách tiếp cận so sánh, Chương I của luận văn đã làm
sáng tỏ những vấn đề lý luận về hội, làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng
pháp luật về hội và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về hội ở Việt Nam
trong những chương tiếp theo.
56
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HỘI Ở VIỆT NAM
Trải qua hơn 4000 năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu
với nhiều cuộc chiến tranh để giữ nước, đồng thời phải luôn luôn đấu tranh
với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển. Quá trình đấu tranh đó đã
hun đúc nên tinh thần, hào khí Việt Nam, tạo nên giá trị truyền thống dân tộc
Việt Nam hết sức tốt đẹp. Đó là truyền thống đoàn kết bất khuất, kiên cường,
giàu lòng vị tha, giàu lòng nhân ái. Mỗi khi khó khăn, người Việt Nam luôn
luôn bên nhau, kết đoàn thành một khối tạo ra sức mạnh để vượt qua tất cả
mọi khó khăn, gian khổ. Bởi vậy, có thể nói các tổ chức hội ra đời rất sớm, nó
gắn chặt với các việc thiện, gắn chặt với sự tồn tại của các cộng đồng làng xã,
cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng dân tộc.
Sách “Vai trò của các hội trong đổi mới và phát triển đất nước” đã
phân chia lịch sử phát triển hội ở Việt Nam theo theo ba phân kỳ lịch sử : thời
trung đại (bao gồm cả xã hội theo cách sản xuất châu Á và xã hội
phong kiến, tức đến đầu thế kỷ XIX); thời kỳ xã hội nửa thực dân phong kiến;
và thời kỳ xã hội mới từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay.
- Thời phong kiến, các hội ra đời và hoạt động từ đơn giản đến phức
tạp. Có loại xuất phát từ một dòng họ, hay vài dòng họ như phe, giáp. Có loại
xuất phát từ việc thiện mà lập ra các quỹ, các hội, ví dụ như Hội hiếu, Hội hỷ,
quỹ nghĩa điền, quỹ nghĩa thương, quy mô của các loại Hội này thường bó
hẹp trong một cộng đồng làng, xã... Ở thời kỳ này, bên cạnh các Hội tập hợp
việc thiện, theo dòng họ đã tiến lên tập hợp theo ngành nghề, công việc,
chẳng hạn như: Hội phường vải, phường nón, mộc, Hội tương thân...; tập hợp
theo giới như : phụ lão, nhi đồng...; tập hợp theo tôn giáo tín ngưỡng như :
Hội thờ thánh quan, Hội thờ đức Thánh Trần...; tập hợp theo văn hoá, nghệ
57
thuật như: Hội đồng môn, Hội tử văn, Hội tử võ, Hội chèo, Hội vật, Hội cờ,
Hội bơi thuyền, Hội chọi gà, Hội chơi chim bồ câu...
Nhà nước phong kiến của hầu hết các triều đại tuy chưa quan tâm đặt
ra các quy định cụ thể việc quản lý các hoạt động của các hội nhưng cũng đã
để ý tới khía cạnh khai thác các khả năng đóng góp của các hội với triều đình.
Nhà nước phong kiến, giao cho các quan lại địa phương phải thu nạp các sản
vật mà các thợ khéo làm ra nộp về triều đình. Mặt khác, mỗi khi có thiên tai,
địch hoạ thì phải biết huy động các hội tham gia uý lạo dân chúng. Thời kỳ
này, xã hội Việt Nam là xã hội nông nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp làm
chính, gần như cả dân tộc sống bằng nghề nông, do đó các làng xã đã lập ra
các quỹ ruộng, quỹ thóc để trợ cấp cho bà goá, con côi, hay lập ra nghĩa điền
là loại quỹ do những người hảo tâm tặng, cấp để giúp đỡ những người cùng kiệt
khó... Các loại quỹ này, cùng với các hội kể trên đã ít nhiều góp phần cùng
với các chính sách tiến bộ của các triều đại phong kiến như "khoan sức dân"
đem lại sự ổn định về đời sống cho nhân dân.
- Thời kỳ phong kiến, thực dân là thời kỳ đấu tranh dân tộc và đấu
tranh giai cấp rất sôi động. Nhận thấy vai trò quan trọng trong tập hợp quần
chúng của các hội, giai cấp thống trị cũng lập ra các hội để phục vụ mục đích
thống trị của chúng. Thời kỳ này, có thể chia thành hai hệ thống hội quần
chúng, đó là hội quần chúng của nhân dân lao động và cách mạng, hội quần
chúng của giai cấp thống trị.
Hội của nhân dân lao động yêu nước và cách mạng được sáng lập do
nhu cầu bảo vệ quyền lợi của mình trước sự áp bức của giai cấp thống trị. Lúc
đầu vẫn là tập hợp theo giới, ngành, sở thích mang tính truyền thống đã có,
nhưng lúc này phạm vi hoạt động không bó hẹp ở làng, xã, phường mà đã mở
rộng ở phạm vi hàng tỉnh, liên tỉnh, khu vực và toàn quốc. Phát triển hơn, các
hội chính trị ra đời, đây là nơi các lãnh tụ cách mạng tập hợp và giáo dục
chính trị cho quần chúng, đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng
áp bức. T...