loiyeuchidanhchoanh_776
New Member
Download Tiểu luận Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về động sản và bất động sản miễn phí
Bảo vệ quyền sở hữu được hiểu là những biện pháp nhằm tác động bằng pháp luật đối với hành vi xử sự của con người qua đó bảo đảm cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện các quyền sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình. Trong luật dân sự quy định các phương pháp bảo vệ quyền sở hữu, các cách đó là các cách kiện dân sự.
Các cách kiện dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ quyền của người chủ sở hữu hay người chiếm hữu hợp pháp. Một trong số các cách bảo vệ quyền sở hữu đó là kiện đòi tài sản. Khi xác định cách kiện dân sự đòi lại tài sản trong trường hợp tài sản thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình, với mỗi loại tài sản (động sản hay bất động sản) lại có những điều kiện để chủ thể có thể yêu cầu kiện đòi lại tài sản khác nhau. Những điều kiện đó được quy định tại Điều 257, 258 BLDS.
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
g hợp pháp luật có quý định khác.2. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Theo quy định của điều này thì việc chuyển giao quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực từ thời điểm đăng lí quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, đăng kí là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của sự chuyển dịch quyền sở hữu và các quyền khác đối với bất động sản (ví dụ như quyền sử đụng đất), nếu không có đăng kí thì sự chuyển dich các quyền đó không có hiệu lực.
Đối với động sản, theo quy định của khoản 2 Điều 168 BLDS, việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu coi việc chiếm hữu công khai là cách biểu thị quyền sở hữu đối với động sản thì thời điểm việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có thể coi là thời điểm động sản được chuyển giao, người sở hữu mới chiếm hữu động sản.
Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu.
Quyền sở hữu là một quan hệ pháp luật dấn sự về sở hữu. Do đó, cũng giống như bất cứ một quan hệ pháp luật dân sự nào khác, quyền sở hữu phát sinh phải dựa trên những căn cứ pháp lí nhất định. Nó chỉ xuất hiện khi có những sự kiện thực tế mà BLDS có quy định ý nghĩa pháp lí đối với sự kiện đó. Căn cứ xác lập quyền sở hữu là những sự kiện pháp lí do pháp luật quy định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì quyền sở hữu của một chủ thể đối với tài sản sẽ được phát sinh.
Việc xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu có ý nghĩa pháp lí vô cùng quan trọng, bởi pháp luật chỉ công nhận và bảo vệ các quyền của chủ sở hữu nếu quyền đó được xác lập trên những căn cứ do pháp luật quy định. Việc xác lập quyền sở hữu trên những căn cứ được khái quát tại điều 170 BLDS mới được coi là quyền sở hữu hợp pháp.
Việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác lập quyền sở hữu tài sản. Trong một số căn cứ xác lập quyền sở hữu, bản chất của tài sản có ý nghĩa quyết định, và có sự khác nhau rất lớn giữa tài sản là động sản và bất động sản. Ý nghĩa đó thể hiện qua một số điều luật sau.
* Khoản 2, 3 Điều 236 BLDS quy định: “Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là động sản của mình, mặc dù đã biết hay phải biết tài sản đó không phải là của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập thì chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập có một trong các quyền sau đây:
a) Yêu cầu người sáp nhập tài sản giao tài sản mới cho mình và thanh toán cho người sáp nhập giá trị tài sản của người đó;
b) Yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại, nếu không nhận tài sản mới.
3. Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là bất động sản của mình, mặc dù đã biết hay phải biết tài sản đó không phải là của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập thì chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập có quyền yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại.”
Khi xem xét đến vấn đề sáp nhập, trước hết chúng ta phải xét đến tài sản trước khi sáp nhập. Tài sản đem sáp nhập có thể là động sản hay bất động sản, và mỗi loại đều có ý nghĩa riêng:
Khi sáp nhập động sản với động sản, tài sản sau khi sáp nhập có thể là động sản hay bất động sản. (Ví dụ như sáp nhập các linh kiện xe máy tạo thành chiếc xe máy hoàn chỉnh, sáp nhập vật liệu xây dựng thành ngôi nhà…)
Khi sáp nhập các bất động sản với nhau, tài sản sau khi sáp nhập luôn luôn là bất động sản.
Khi sáp nhập tài sản và động sản với tài sản là bất động sản, tài sản sau khi sáp nhập luôn luôn là bất động sản.
Việc xác định tài sản trước khi sáp nhập có ý nghĩa trong việc xác định vật mới sau khi đã sáp nhập. Tài sản mới tạo thành thường là tài sản kết hợp giá trị sử dụng của các tài sản đem sáp nhập. Xác định tài sản là động sản hay bất động sản có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản mới sau khi sáp nhập. BLDS có quy định về sáp nhập tài sản là động sản với động sản, hay tài sản là động sản với tài sản là bất động sản.
Đối với trường hợp một người đem sáp nhập tài sản là động sản của người khác với tài sản là động sản của mình, mà không có sự đồng ý của họ, thì quyền sở hữu đối với vật mới tạo thành có thể thuộc về chủ sở hữu tài sản bị đem sáp nhập hay thuộc về người sáp nhập, tuy theo sự lựa chọn của chủ sở hữu tài sản bị đem sáp nhập. Chủ sở hữu tài sản bị đem sáp nhập có thể yêu cầu người sáp nhập giao tài sản mới cho mình và thành toán cho người sáp nhập phần giá trị tài sản của người đó. Nếu không nhận tài sản mới tạo thành, thì chủ sở hữu tài sản đem sáp nhập có quyền yêu cầu người sáp nhập thanh toán giá trị tài sản của mình và bồi thường thiệt hại.
Đối với trường hợp sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là bất động sản của mình, mặc dù chủ sở hữu (hay chủ sủ dụng) bất động sản đã biết hay phải biết động sản đem sát nhập đó không phải của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu động sản bị sát nhập thì chủ sở hữu động sản bị sát nhập có quyền yêu cầu người sát nhập thanh toán giá trị phần tài sản và bồi thường thiệt hại. Trên thực tế, trường hợp này xảy ra rất nhiều, khi chủ sở hữu động sản biết được việc tài sản của mình bị đem sáp nhập thì khó đòi lại được do sau khi sáp nhập, bất động sản là vật chính còn động sản là vật phụ, nên luật quy định như vậy là phù hợp với thực tế.
* Điều 239 Xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu quy định: “1. Vật vô chủ là vật mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với vật đó.
Người đã phát hiện vật vô chủ là động sản thì có quyền sở hữu tài sản đó theo quy định của pháp luật; nếu vật được phát hiện là bất động sản thì thuộc Nhà nước.
2. Người phát hiện vật không xác định được ai là chủ sở hữu phải thông báo hay giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hay công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Việc giao nộp phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người giao nộp, người nhận, tình trạng, số lượng, khối lượng tài sản giao nộp.Uỷ ban nhân dân hay công an cơ sở đã nhận vật phải thông báo cho người phát hiện về kết quả xác định chủ sở hữu.
Trong trường hợp vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản thì sau một năm, kể từ ngày thông báo công kh...