thuyduong_hflc

New Member

Download miễn phí Nghiên cứu của CEPR - Chi tiêu chính phủvà tăng trưởng kinh tế: khảo sát lý luận tổng quan





Lý thuyết của Keynes đã gặp thách thức lớn khi nền kinh tếthếgiới rơi vào suy thoái trong
những năm 1970, và khi có sựbùng nổkinh tếnhờcắt giảm thuếkết hợp với thắt chặt chi
tiêu trong những năm 1980. Nếu Keynes còn sống, chắc hẳn ông sẽrất ngạc nhiên với cách
vận dụng lý thuyết của ông để ủng hộcho sựgia tăng chi tiêu chính phủ. Vào những năm
1940 trong một cuộc trao đổi kinh tế, ông đã cho rằng quy mô chi tiêu chính phủkhông nên
vượt quá 25% GDP, nếu không tăng trưởng kinh tếsẽbị ảnh hưởng xấu.
Ngày nay, mặc dù lý thuyết của Keynes vềchi tiêu chính phủkhông còn được các nhà kinh tếtrọng dụng nhưng nó vẫn được các chính trịgia và các nhà báo thường xuyên nhắc đến nhưlà động lực đểthúc đẩy tăng trưởng.



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

hắc hẳn ông sẽ rất ngạc nhiên với cách
vận dụng lý thuyết của ông để ủng hộ cho sự gia tăng chi tiêu chính phủ. Vào những năm
1940 trong một cuộc trao đổi kinh tế, ông đã cho rằng quy mô chi tiêu chính phủ không nên
vượt quá 25% GDP, nếu không tăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng xấu.1 Ngày nay, mặc dù
lý thuyết của Keynes về chi tiêu chính phủ không còn được các nhà kinh tế trọng dụng nhưng
nó vẫn được các chính trị gia và các nhà báo thường xuyên nhắc đến như là động lực để thúc
đẩy tăng trưởng.
Ngược với quan điểm của trường phái Keynes, trong nhiều thập kỉ qua nhiều nhà kinh tế tin
rằng việc cắt giảm thâm hụt ngân sách là liều thuốc thần diệu đối với tăng trưởng kinh tế. Họ
lập luận rằng cắt giảm chi tiêu chính phủ và do vậy là cắt giảm thâm hụt ngân sách sẽ làm
giảm lãi suất, tăng đầu tư, tăng năng suất và cuối cùng là thúc đẩy tăng trưởng. Lập luận này
là có cơ sở và chính sách tài khoá nên tập trung giải quyết vấn đề thâm hụt nếu mối quan hệ
giữa các biến số trên là chặt chẽ. Tuy nhiên, có nhiều lý do để tin rằng giả thuyết trên về mối
quan hệ giữa thâm hụt ngân sách, lãi suất, đầu tư và tăng trưởng đã được đề cao quá mức. Cụ
thể, số liệu thực tế của nền kinh tế Mĩ và nhiều nước khác trên thế giới đã chỉ ra rằng thâm
hụt ngân sách có tác động cực kỳ nhỏ đến lãi suất, đặc biệt là đối với các nền kinh tế mở. Lãi
suất được quyết định trên thị trường vốn quốc tế nơi có hàng ngàn tỉ USD được giao dịch mỗi
ngày. Thậm chí ngay cả sự thay đổi lớn về cán cân ngân sách của chính phủ cũng khó có tác
động đáng kể đến lãi suất. Ngoài ra, cầu tín dụng cũng là nhân tố chính quyết định đến lãi
suất, đây chính là lý do tại sao lãi suất thường cao trong những thời kỳ có tăng trưởng mạnh.
Trong những thời kỳ này cầu tín dụng thường cao, và để kiếm được lợi nhuận các tổ chức tài
chính thường áp đặt mức lãi suất cao đối với các khoản cho vay nhằm bù đắp cho những rủi
ro tín dụng và lạm phát. Cuối cùng thuế đánh vào thu nhập tiền lãi cũng là một trong những
nhân tố ảnh hưởng mạnh đến lãi suất. Thực tế cho thấy, với các yếu tố khác như nhau thì các
loại trái phiếu chịu thuế thường có mức lãi suất suất cao hơn so với các trái phiếu không chịu
thuế. Điều này hàm ý rằng sự gia tăng thuế, mặc dù làm giảm thâm hụt ngân sách, nhưng lại
1 www.cis.org.au/policy/autumn03/polaut03-1.pdf
7
có nhiều khả năng sẽ làm tăng lãi suất và do vậy không có khả năng kích thích đầu tư và tăng
trưởng kinh tế.
Hai trường phái trên có những quan điểm rất khác nhau về thâm hụt ngân sách, tuy nhiên
không trường phái nào nhấn mạnh đến quy mô chi ngân sách. Các nhà kinh tế theo trường
phái Keynes thường liên quan đến quy mô chi tiêu chính phủ lớn nhưng họ cũng không có
phản đối gì với quy mô chi tiêu chính phủ nhỏ, miễn là chi tiêu chính phủ có thể được tăng
khi cần thiết để đưa nền kinh tế thoát khoải tình trạng trì trệ. Trong khi đó các nhà kinh tế tin
vào mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách, lãi suất, đầu tư và tăng trưởng, như đã phân tích ở
trên, cũng không có phản đối gì đối với quy mô chi tiêu chính phủ lớn miễn là nó được tài trợ
bằng thuế thay vì vay nợ. Các lý thuyết khác nhau sử dụng những lập luận khác nhau và do
vậy chúng không đưa ra được câu trả lời rõ ràng về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và
tăng trưởng kinh tế. Hầu hết các nhà kinh tế đồng ý rằng có những trường hợp nhất định việc
cắt giảm chi tiêu chính phủ sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và cũng có những trường hợp sự
gia tăng chi tiêu chính phủ là có lợi cho tăng trưởng. Phần dốc xuống của đường Rahn trong
Hình 1 có thể được giải thích bởi nhiều lý do sau đây:
- Chi tiêu chính phủ cần có những nguồn tài trợ nhất định. Chính phủ không thể thực
hiện chi tiêu mà không lấy tiền của một người nào đó trong nền kinh tế. Mọi lựa chọn
biện pháp tài trợ chi tiêu đều gây ra những hậu quả tiêu cực. Tăng thuế sẽ cản trở các
hành vi thúc đẩy sản xuất như lao động, tiết kiệm, đầu tư… Vay nợ sẽ làm giảm
nguồn vốn đáng lẽ ra dành cho đầu tư tư nhân, và trong nhiều trường hợp còn làm
tăng lãi suất. In tiền sẽ gây ra lạm phát, bất ổn kinh tế vĩ mô, và bóp méo các hành vi
kinh tế.
- Mỗi đồng chi tiêu tăng thêm của chính phủ đồng nghĩa với một đồng chi tiêu bị cắt
giảm của khu vực sản xuất tư nhân trong nền kinh tế. Điều này làm giảm tăng trưởng
kinh tế bởi vì các lực lượng kinh tế định hướng cho sự phân bổ nguồn lực của khu vực
tư nhân, trong khi đó các lực lượng chính trị lại chi phối các quyết định chi tiêu của
chính phủ. Mặc dù một số khoản chi tiêu của chính phủ như chi cho sự vận hành tốt
của hệ thống pháp luật có thể có lợi ích lớn, tuy nhiên nhìn chung chính phủ thường
không sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả như khu vực tư nhân. Nhiều bằng
chứng ở các nước trên thế giới cho thấy, khu vực tư nhân có thể cung cấp các dịch vụ
y tế, giáo dục, sân bay, bưu chính… chất lượng hơn và với chi phí thấp hơn.
8
- Một số khoản chi tiêu chính phủ khuyến khích việc lựa chọn những hành vi tiêu cực.
Nhiều chương trình trợ cấp của chính phủ dẫn đã dẫn đến những quyết định không
mong muốn về mặt kinh tế. Các chương trình phúc lợi khuyến khích mọi người lựa
chọn nghỉ ngơi thay vì lao động. Các chương trình bảo hiểm thất nghiệp làm giảm
động cơ tìm việc. Các chương trình bảo hiểm thiên tai có thể khuyến khích người dân
làm nhà ở những vùng hay có thiên tai… Những ví dụ này cho thấy các chương trình
chi tiêu của chính phủ có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế và làm giảm sản lượng
quốc gia bởi vì chúng thúc đẩy sự phân bổ và sử dụng nguồn lực một cách sai lầm.
- Một số khoản chi tiêu chính phủ không khuyến khích các hành vi có lợi cho sản xuất.
Một số chương trình chi tiêu chính phủ không dẫn đến các quyết định có lợi về mặt
kinh tế. Tiết kiệm giúp cung cấp nguồn vốn cho đầu tư, tuy nhiên động cơ tiết kiệm có
thể bị mai một bởi các chương trình trợ cấp cho người về hưu, trợ cấp nhà ở, trợ cấp
ốm đau, và trợ cấp giáo dục của chính phủ. Tại sao một cá nhân lại phải tiết kiệm thu
nhập để chi tiêu khi về hưu, để mua nhà, để đi học… khi chính phủ sẵn sàng tài trợ
cho những việc này? Những chương trình trợ cấp này đôi khi còn khuyến khích người
dân khai man thu nhập và phân bổ nguồn lực của họ một các không hiệu quả.
- Chi tiêu chính phủ bóp méo việc phân bổ nguồn lực. Những người hưởng lợi từ các
chương trình chi tiêu của chính phủ có thể ít quan tâm đến tính hiệu quả của việc sử
dụng nguồn lực mà họ nhận được từ chính phủ. Điều này làm giảm vai trò của các thị
trường cạnh tranh và gây ra sự kém hiệu quả của các khu vực như giáo dục và y tế.
- Chi tiêu chính phủ cản trở những phát minh mới. Nhờ có cạnh tranh và mong muốn
làm giàu, các cá nhân và tổ chức tư nhân luôn nỗ l
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
D Nghiên cứu Starter của nấm mốc Actinomucor elegans và ứng dụng trong sản xuất Chao với quy mô công nghiệp Nông Lâm Thủy sản 0
D Nghiên cứu thể lực của học sinh tiểu học ở Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn Sư phạm 0
D Nghiên cứu ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt tới chất lượng nước sông Tô lịch và đề xuất biện pháp xử lý Nông Lâm Thủy sản 0
D Nghiên cứu đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân 60 tuổi tràn dịch màng phổi Y dược 0
D Nghiên cứu nhu cầu tái tục bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PVI Huế Luận văn Kinh tế 0
D Chế tạo và nghiên cứu tính chất quang học của vật liệu TiO2 có cấu trúc nano pha tạp ion đất hiếm Khoa học Tự nhiên 0
D Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các biến chứng của nhiễm viêm gan virus B trên bệnh nhân nhiễm viêm gan virus C Y dược 0
D Nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa tri nhận và hàm ý văn hóa của động từ "ăn" trong tiếng Hán và tiếng Việt Ngoại ngữ 0
R Nghiên cứu tính tích cực học tập môn tâm lý học của sinh viên Đại học sư phạm Hải Phòng Luận văn Sư phạm 0
R Nghiên cứu tác động của hiệp định thương mại tự do ASEAN đến nhập khẩu của Việt Nam Luận văn Kinh tế 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top