caotrung1308
New Member
Download miễn phí Luận văn Nghiên cứu về định danh từ vựng của Nam Bộ
MỤC LỤC
Dẫn nhập
0.1. Lí do chọn đề tài
0.2. Phạm vi nghiên cứu
0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
0.3.1. Mục đích nghiên cứu
0.1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
0.4. Lịch sử vấn đề
0.4.1. Nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ
0.4.2. Nghiên cứu định danh trong tiếng Việt và trong PNNB
0.5. Phương pháp nghiên cứu
0.6. Bố cục luận văn
Chương một: Một số vấn đề về Nam Bộ và định danh
1.1. Một số vấn đề chung về Nam Bộ
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên
1.1.1.1. Địa hình, đất đai
1.1.1.2. Khí hậu, thuỷ văn
1.1.1.3. Sông rạch
1.1.1.4. Đảo, bờ biển và rừng
1.1.1.5. Hệ quả
1.1.2. Đặc điểm xã hội
1.1.2.1. Nguồn gốc dân cư
1.1.2.2. Đời sống và tổ chức xã hội
1.1.3. Đặc trưng văn hoá Nam Bộ
1.1.3.1. Văn hoá và các thành tố văn hoá
1.1.3.2. Đặc trưng văn hoá Nam Bộ
1.1.3.3. Sự biến đổi và giao thoa văn hoá ở Nam Bộ
1.1.4. Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ
1.1.4.1. Kh.niệm PN; từ đ.phương, phân vùng, xác định vùng PNNB
1.1.4.2. Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ
1.1.4.3. Sự tiếp xúc ngôn ngữ ở Nam Bộ
1.2. Định danh từ vựng
1.2.1. Khái niệm định danh
1.2.2. Định danh từ vựng
1.2.3. Đặc trưng văn hoá trong định danh
1.3. Tiểu kết
Chương hai: Hệ thống từ ngữ gọi tên riêng
2.1. Địa danh
2.1.1. Nguồn gốc
2.1.2. Cấu tạo
2.1.3. cách biểu thị
2.1.4. Ngữ nghĩa
2.2. Nhân danh
2.2.1. Nguồn gốc
2.2.2. Cấu tạo
2.2.3. cách biểu thị
2.2.4. Ngữ nghĩa
2.3. Tiểu kết
Chương ba: Hệ thống từ ngữ gọi tên chung
3.1. Định danh động vật
3.1.1. Nguồn gốc
3.1.2. Cấu tạo
3.1.3. cách biểu thị
3.1.4. Ngữ nghĩa
3.2. Định danh thực vật
3.2.1. Nguồn gốc
3.2.2. Cấu tạo
3.2.3. cách biểu thị
3.2.4. Ngữ nghĩa
3.3. Định danh công cụ, phương tiện sản xuất và sinh hoạt
3.3.1. Nguồn gốc
3.3.2. Cấu tạo
3.3.3. cách biểu thị
3.3.4. Ngữ nghĩa
3.4. Định danh đơn vị đo lường dân gian
3.4.1. Nguồn gốc
3.4.2. Cấu tạo
3.4.3. cách biểu thị
3.4.4. Ngữ nghĩa
3.5. Định danh về sông nước và hoạt động trên sông nước 3.5.1. Nguồn gốc 0
3.5.1. Nguồn gốc
3.5.2. Cấu tạo
3.5.3. cách biểu thị
3.5.4. Ngữ nghĩa
3.6. Định danh những sản phẩm được chế biến từ nông sản, thuỷ sản
3.6.1. Nguồn gốc
3.6.2. Cấu tạo
3.6.3. cách biểu thị
3.6.4. Ngữ nghĩa
3.7. Tiểu kết
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-29-luan_van_nghien_cuu_ve_dinh_danh_tu_vung_cua_nam_bo.NgM8WiDwPH.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-56798/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
oang sơ, dấu vết nguồn gốc dân cư… in rõ trong địa danh hành chính một thời. Hiện nay, các yếu tố A, B, 1, 2... thể hiện nét hiện đại, ít nhiều “Tây hoá” của địa danh.Các loại yếu tố 3 được thêm vào tên gốc:
+ Thêm A, B: Đây là cách tạo địa danh theo cách mới (thêm chữ Latin).
Thêm A vào tên gốc tạo nên một tên mới: (tên gốc) + A. Ví dụ, tên gốc Phong Thạnh, tên mới: Phong Thạnh A (không có Phong Thạnh B)
Thêm A và B vào tên gốc tạo nên hai tên mới: (Tên gốc) + A và (Tên gốc) + B. Ví dụ, tên gốc là Phong Thạnh sẽ tạo thành hai tên mới: Phong Thạnh A, Phong Thạnh B.
+ Thêm yếu tố chỉ vị trí, phương hướng: Trung, Thượng, Hạ, Bắc, Nam, Tây, Đông (tương tự như cách thêm A, B). Đây là cách đặt địa danh xưa.
+ Thêm số (La Mã) vào tên gốc. Ví dụ, Công Trường II...
+ Dùng số từ, số thứ tự làm địa danh: quận 1, quận 3, phường 1, phường 2, kênh T1, T2… (Đồng Tháp Mười), Cầu Số 1, Cầu Số 2…; Tân Sơn Nhất, Tân Sơn Nhì (tp Hồ Chí Minh), phường Thắng Nhất, phường Thắng Nhì (Vũng Tàu)... Lê Trung Hoa thống kê, so sánh và đưa ra kết luận: “địa danh bằng số ở Nam Bộ cao hơn rất nhiều so với tỉ lệ chung cả nước” [33; 57].
b) Địa danh đơn, địa danh ghép
- Địa danh đơn (một âm tiết): là những địa danh chỉ có yếu tố 1 (đi kèm với danh từ chung chỉ loại hình). Ví dụ: giồng Giếng, giếng Tấn, sóc Lọt, sông Giới, cù lao Rùa, núi Cậu, giáp Trung, ngòi Sau, quận Ba (3), hòn Chông, ghềnh Đá, vàm Hàn, cồn Mông, kênh Mới…
Trong giao tiếp, địa danh Nam Bộ hầu như không sử dụng độc lập một tiếng (không có danh từ chung đi kèm) như PNBB. Ví dụ: Nhổn, Bưởi, (Hà Nội), Chèm, Còng (Thanh Hoá), Lường (Nghệ Tĩnh), Ghềnh, Me (Ninh Bình), Lâm (Ý Yên- Nam Định), Huế, Vinh v.v.
Tuy nhiên, những thành tố chỉ chung trên khi được chuyển thành tên riêng thì chúng lại trở thành yếu tố 1. Ví dụ: huyện Giồng Riềng, huyện Cầu Ngang, chợ Phường Ba v.v.
- Địa danh ghép được thực hiện bằng cách ghép. Ngoài yếu tố 1, địa danh ghép còn có thêm yếu tố 2 và có khi cả yếu tố 3. Nó có thể đi kèm hay không đi kèm với danh từ chung. Nếu không đi kèm thì đó là địa danh ghép độc lập. Ví dụ: Trần Văn Thời, Vĩnh Lợi... Nếu phải đi kèm thì đó là địa danh ghép không độc lập, loại này ít. Ví dụ: thành phố Hồ Chí Minh...
c) Địa danh Nam Bộ thường được cấu tạo bằng nhiều âm tiết. Theo thống kê của Lê Trung Hoa thì số địa danh hành chính Nam Bộ “không phải song tiết chiếm tỉ lệ cao hơn tỉ lệ cả nước” [36; 71]. (tức nhiều địa danh trên hai âm tiết).
Nhiều địa danh Nam Bộ được cấu tạo bốn, thậm chí năm âm tiết: Thần Biển Cần Giờ, Tam Bảo Bồng Doanh, Tân Giai Xóm Sông, Tân Hoà Đồng Tranh, Phú Lộc Tứ Chiếng, Phúc Hậu Xóm Sông, Phú Yên Nhuận Đức, Nam Hải Tướng Tuân, Mĩ Đức Tứ Chiếng, Mĩ Hoà Tứ Chiếng, Minh Bột Thổ Khâu, Minh Bột Lư Khê, Minh Bột Kì Thu, Hoàng Long Quý Sơn, Điền Hoà Xóm Sông, Chàn Dầu Hòn Sơn Thát, Bình Thuyên Tứ Chiếng, Bình Thuỷ Thanh Tuyền, Bình Phục Nhất Đông, Bình Đông Ngũ Phúc, Bình Hoà Tứ Chiếng, Bà Rịa Đồng Tranh; Bình Phú Đạo Quang Hoa, Cựu Vĩnh Thịnh Hậu Giang…
Yếu tố 3 có khi hai tiếng (Tân Giai Xóm Sông, Tân Hoà Đồng Tranh, Tân Thịnh Sông Tra, Văn Đức Tứ Chiếng, Phúc Hậu Xóm Sông, Mỹ Đức Tứ Chiếng, Bình Phục Nhất Đông, Bình Thủy Thanh Tuyền, Bình Đông Ngũ Phúc, An Thịnh Cần Giờ… Hậu Mĩ Bắc A, Hậu Mĩ Bắc B…), ba tiếng (Bình Phú Đạo Quan Hoà…).
Nhiều địa danh Nam Bộ có thể lúc đầu là tên nôm sau đó do nhu cầu ghi chép bằng chữ Hán, do đọc traị hay do nhiều nguyên nhân khác, tên chữ thay thế dần tên nôm, hay cả hai tên cùng song song tồn tại.
2.1.3. cách biểu thị
a) Dựa vào đặc điểm của đối tượng
Địa danh ở Nam Bộ có loại không có lí do, hay không tìm được lí do: “đại để là theo cách gọi của người địa phương để đặt tên mà thôi. Không câu nệ hỏi từ đâu, đừng đắm đuối vào những tiếng nghe cũ ở các sách đời xưa chép lại thì mới được” [24; 20]. Tuy nhiên, cũng có nhiều địa danh khi con người đặt tên đều có cơ sở. Cơ sở chủ quan và khách quan.
Cơ sở chủ quan của việc định danh thường là những ước nguyện chủ quan của chủ thể. Ước nguyện về cuộc sống yên lành, hạnh phúc; là cái đẹp, là sự giàu có… lâu dài, bền vững v.v. được gửi gắm trong từng tên đất, trong những yếu tố Hán Việt của địa danh hành chính.
Dựa vào đặc điểm nổi bật về điều kiện tự nhiên, về đặc điểm xã hội của đối tượng để định danh thường có trong những địa danh nôm. Đây chính là lí do khách quan trong định danh:
- Hình dạng, kích thước
+ Suối Cụt (Tây Ninh), Núi Dài, Núi Tượng, Hòn Trống Mái (Châu Đốc), Láng Tròn, Láng Dài, Trảng Lớn (Tây Ninh), sông Cái Lớn, cầu Hang, kinh Sáu Thước, Ao Vuông (Trà Vinh) v.v.
+ Cổ Cò:“…ngã ba Lộ Cảnh, sông ấy dài mà cong, tục gọi là Cổ Cò” [24; 61]), Ghềnh Thạch Nghê: “ở cách trấn lị về phía đông 3 dặm rưỡi, phục ở phía nam dòng sông Phước An, hình đá giống con nghê, đầu sừng rõ ràng…” [24; 24], Hòn Chông:“Núi Kích Sơn (...) lởm chởm cao ngất như ngọn giáo…” [24; 67], Sông Long Hồ : “chảy lại thì quanh co, chảy đi uốn éo, ngang thì lượn lạc, hợp thì ngưng đọng, bốn mùa ngon ngọt, bờ bãi chia xa gần có nơi cao nơi thấp; thôn xóm bày ở đông và tây, khi ẩn khi hiện, như rừng như động, như vực như đầm, cho nên có tên là Long Hồ” [24; 52], Núi Ngũ Hổ: “ở cách trấn thự về phía bắc nửa dặm, hình núi vai nhô lên đầu phục xuống, nghiễm như hổ ngồi dựa núi, để hộ vệ cho trấn, đến gần được mà không thể coi thường” [24; 65]...
- Tính chất, đặc điểm
+ Cái Quanh, Cái Cạn, Cái Cùng, Cái Đôi, Cái Lấp, Cái Mới, Cái Ngay, Cái Sâu, Cái Tắt, Cái Xép, suối Nước Trong, hòn Đá Bạc, Nước Đục, rạch Nước Ngọt, chợ Lớn, chợ Nhỏ, chợ Cũ, chợ Mới v.v.
+ “Gọi tên là sông Lạn Ô, sông rộng nước sâu, những cái bẩn đục (ô trọc) của các sông đến đấy ngăn gạn lọc rửa mà trong cả” [24; 26].
Âm thanh của đối tượng cũng là cơ sở để định danh. Ví dụ, “…sông Dã dương chảy quanh núi Hập Hộp (nước sông xói vào đá kêu bộp bộp, tục danh là núi sông Bập” [24; 26]...
- Phương vị
+ U Minh Thượng, U Minh Hạ (Cà Mau), Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ, chợ Giữa v.v.
+ Núi Tà Biệt “cao 20 trượng, chu vi 6 dặm, ngọn chòm rải rác, mặt phía đông, lưng phía tây, không chung đàn với các núi mà ở lệch về một bên Náo Khẩu cho nên gọi là Tà Biệt…” [24; 50].
- Nguồn gốc dân cư
Mạch Chà (mạch nước ở vùng Lái Thiêu có nhiều người Ấn Độ sinh sống, Thủ Đức, tp HCM), xóm Chà Và, xóm Tàu Ô, xóm Mọi Lèo, đất Thánh Chà, suối Chà (tp HCM), xóm Phát Diệm, ấp Xóm Huế (Củ Chi và Bạc Liêu) v.v.
- Nơi có động vật sinh sống
+ Rạch Đỉa, rạch Sấu, rạch Voi, rạch Cá Trê, rạch Cá Chốt, rạch Cá Tra, suối Đỉa (Biên Hoà), Đầm Dơi, Láng Le (tp HCM), cầu Cá Lóc (Bến Tre), ấp Bàu Trăn (tp HCM), rạch Bến Trâu, Đồng Hươu (Biên Hòa), sông Mũi Nai, Hóc Hươu (tp HCM), Đầm Chim, Láng Voi, Đồng Voi, Bàu Nai, rạch Gò Công, Hố Bò, trại Bù Mắt, ấp Kiến Vàng, Rạch Chồn, Bọng Két, Cái Cá, Cái Cáy, Cái Chồn, Cái En, Cái Hươu, Cái Lóc, Cái Nai, Cái R...