princess_cloud_land
New Member
Download Tiểu luận Quy định của Pháp luật Việt Nam về vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học và phương hương hoàn thiện miễn phí
MỤC LỤC
MỞ BÀI 1
NỘI DUNG: 2
1. Khái quát về vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học 2
1.1. Khái niệm: 2
2. Một số phương pháp sinh con theo phương pháp khoa học tiêu biểu. 4
2.1. Thụ tinh nhân tạo 4
2.2. Thụ tinh trong ống nghiệm 5
3. Những trường hợp sinh con bị pháp luật cấm: 6
3.1) Trường hợp mang thai hộ. 6
3.2. Sinh sản bằng phương pháp vô tính. 7
4). Nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 8
5) Nguyên tắc xác định cha mẹ cho con sinh theo phương pháp khoa học 8
5.1) Khái niệm xác định cha mẹ cho con 8
5.2) Xác định cha mẹ cho con trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học. 9
6. Những hạn chế trong các quy định của Pháp luật Việt Nam về vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học và phương hương hoàn thiện. 13
KẾT BÀI: 19
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
”.Để cụ thể vấn đề này, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/2/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học, nghị đinh này đã quy định việc thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm, việc cho và nhận tinh trùng, cho nhận phôi, xác định cha mẹ cho con sinh ra bằng phương pháp khoa học…
1.2. Các trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học:
Theo điều 2 Nghị định của Chính phủ số 12/2003/NĐ-CP về phương pháp sinh con theo khoa học quy định:
“ Nghị định này áp dụng đối với các cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ sống độc thân muốn sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; người cho tinh trùng, người nhận tinh trùng, người gửi tinh trùng; người cho noãn, người nhận noãn; người cho phôi, người nhận phôi; cơ sở lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi; các cơ sở y tế được Bộ Y tế cho phép áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để sinh con (sau đây gọi là cơ sở y tế).”
a. Trường hợp thứ nhất: Sinh con theo phương pháp khoa học áp dụng cho các cặp vợ chồng vô sinh:
Theo y học, vô sinh là trường hợp hai người chung sống và giao hợp thường xuyên đã 1 năm (không tránh thai) mà không thấy thụ thai, hay có thụ thai nhưng lần nào cũng sẩy. Vô sinh có thể là nguyên phát, tức là từ trước đến giờ người phụ nữ hay người đàn ông chưa bao giờ có con, cũng có thể là thứ phát, tức là đã từng có con, nhưng sau mất khả năng đó. Hiện nay tỷ lệ vô sinh chiếm khoảng 10% đến 18% các cặp vợ chồng. Ðây là một vấn đề lớn không chỉ riêng cho ngành y tế mà là chung cho xã hội. Từ năm 1993 đến 1997, qua số người đến khám vô sinh tại Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh cho thấy nguyên nhân do người vợ chiếm 54,5%, do người chồng là 36,6% và không rõ nguyên nhân là 9,9%. Nghị định của Chính phủ về "Sinh con theo phương pháp khoa học" không chỉ tạo điều kiện để mang lại niềm vui cho những người bị vô sinh mà còn là hành lang pháp lý cho chuyên môn và cho mọi người muốn điều trị vô sinh.
Các nguyên nhân có thể dẫn đến vô sinh có thể ở người đàn ông như chất lượng, khả năng vận chuyển tinh trùng kém nhưng cũng có thể do người phụ nữ thể là do người bị rối loạn hoocmôn không rụng trứng được…hay là do cả 2 người dề không thể có khả năg sinh sản.
b. Trường hợp thứ hai: Sinh con theo phương pháp khoa học áp dụng cho phụ nữ độc thân.
Cuộc sống công nghiệp hiện đại, nhịp sống hối hả, không những cuốn hút phái nam mà cả phái nữ. Ngày càng nhiều phụ nữ không muốn bị ràng buộc bởi đàn ông nhưng họ lại muốn có một đứa con để vui vầy về sau đó là một trong những lý do chính dẫn đến trường hợp này.
Theo khảo sát ban đầu làn sóng sinh con theo phương pháp này xuất hiện ở các tầng lớp trí thức, giới nghệ sĩ và những người thành đạt, nhưng thời gian gần đây, khi mà khoa học phát triển, cũng như để không phải dính dáng, rắc rối về sau, một số phụ nữ độc thân chỉ muốn có con, không muốn có chồng đã tìm đến biện pháp có con bằng phương pháp khoa học. Những phụ nữ độc thân có nhu cầu như vậy, họ không chỉ là giới thành đạt mà có cả những người bình thường.
2. Một số phương pháp sinh con theo phương pháp khoa học tiêu biểu.
2.1. Thụ tinh nhân tạo
Hiện nay vấn đề được quan tâm và có nhiều tranh luận đó là thụ tinh nhân tạo. Có nhiều người chưa biết hay suy nghĩ sai lệch về vấn đề này vì vậy cần hiểu đúng đắn và nghiêm túc về vấn đề này
Theo quy định tại khoản 2 điều 3 nghị định của Chính phủ số 12/2003/NĐ-CP về phương pháp sinh con theo khoa học quy định:
Thụ tinh nhân tạo là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hay của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi.
2.2. Thụ tinh trong ống nghiệm
Chúng ta điều biết rằng khi hai người yêu nhau và đi đến quyết định gắn kết cuộc sống cùng nhau, nguyện vọng chính đáng của họ là có một đứa con khỏe mạnh và xinh xắn. Chính đứa con đó là nhịp cầu gắn kết cho tình yêu giữa họ, nhưng không phải cuộc sống hôn nhân nào cũng đơm hoa kết trái và để cải thiện, duy trì thiên chức làm cha, làm mẹ cho nhiều cặp vợ chồng phương pháp thụ tinh nhân tạo ra đời như là một vị cứu cho họ.
Theo quy định tại khoản 3, 5, 6 điều 3 nghị định của Chính phủ số 12/2003/NĐ-CP về phương pháp sinh con theo khoa học quy định:
“Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi.
Noãn là tế bào trứng.
Phôi là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng”
Theo các nhà khoa học thì:
“Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) (In vitro fertilization) là phương pháp cho giao tử của chồng (tinh trùng) và giao tử của vợ (trứng) gặp nhau và thụ tinh bên ngoài cơ thể, sau đó chuyển hợp tử hay phôi vào buồng tử cung người mẹ, thường được thực hiện vào ngày thứ 2 sau khi cấy”.
Hiện nay nước ta đã áp dụng được rất nhiều các biện pháp TTTON như thụ tinh trong ống nghiệm cổ điển, tiêm tinh trùng vào bảo tương trứng hay nuôi trưởng thành trứng trong ống nghiệm… nhằm đáp ứng được nhu cầu của nhiều người hiện nay.
3. Những trường hợp sinh con bị pháp luật cấm:
Nghị định số 12 đã cấm việc mang thai hộ và sinh sản vô tính.
3.1) Trường hợp mang thai hộ.
Trước đây khi chưa có hành lang pháp lí cho vấn đề này đã có một số trường hợp mang thai hộ (em bé được mang thai hộ đầu tiên ra đời ở Việt Nam vào năm 2001) nếu xét về mặt khoa học thì có thể chấp nhận những trường hợp mang thai hộ vì người vợ trong cặp vợ chồng không thể mang thai được, nếu có một người phụ nữ đồng ý cho cặp vợ chồng vô sinh cấy phôi vào tử cung của họ để họ mang thai và sinh con thì capự vợ chồng đó vẫn được một đứa trẻ mang huyết thống của mình.
Nhưng nếu xét dưới góc độ tình cảm, pháp lý, phong tục tập quán thì vấn đè này trở nên vô cùng phức tạp, người mang thai hộ trong thời kỳ mang thai sẽ phát sinh những tình cảm gắn kết với đứa trẻ tương lai vậy nếu sinh con ra mà họ không muốn trả con thì giải quyết như thế nào?
Nếu những trường hợp người thân mang thai hộ nhau thì việc xác định thân thích như thế nào đó là một vấn đề phức tạp, Trường hợp mang thai hộ này hoàn toàn không có yếu tố tài sản giữa các bên. Trường hợp thứ hai,các bên kí kết hợp đồng thuê mang thai hộ một cách lén lút có sự thông đồng của nhân viên y tế và người mang thai hộ cũng không muốn trao con cho cặp vợ chồng vô sinh thì hai trường hợp này đều giống nhau tại một điểm đó là: cặp vợ chồng vô sinh chỉ muốn nhờ tử cung của người khác để mang phôi thai của mình. Tuy nhiên ở hai trường hợp này cũng có sự khác nhau có hay không có yếu tố tài sản giữa các bên làm điều kiện kí kết hợp đồng mang thai. Đây là trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học không đảm bảo được nguyên tắc vô danh , người mang thai và người cho phôi đều chủ động tự nguyện thoả thuận việc mang thai. Vậy ai là cha mẹ? là con? Vì thế mà việc xác định cha mẹ cho con là hết sức khó khăn.
Mặt khác nếu mang thai hộ liệu có đảm bảo được một cơ chế giám sát đối với người mang thai hộ trong suốt quá trình mang ...