kiniem_2007

New Member

Download miễn phí Đồ án Server+: Giao thức định tuyến RIP





MỤC LỤC
Lời nói đầu
I. Tổng quát 5
1.1. Giới thiệu 5
1.2. Định nghĩa 5
1.3. Thuật toán 6
II. Giao thức định tuyến - RIP 7
2.1. Định tuyến theo véctơ khoảng cách 7
2.1.1. Đặc điểm 7
2.1.2. Véctơ khoảng cách 8
2.1.3. Vấn đề và các phương pháp giải quyết lặp vòng 9
2.2. Chi tiết về giao thức định tuyến RIP 16
2.2.1. RIP phiên bản 1 16
2.2.1.1. Đặc điểm 16
2.2.1.2. Cấu trúc bản tin 17
2.2.1.3. Các bộ định thời 18
2.2.1.4. Thiết kế RIPv1 19
2.2.2. RIP phiên bản 2 20
2.2.2.1. Đặc điểm 20
2.2.2.2. Cấu trúc bản tin 20
2.2.2.3. Các bộ định thời 22
2.2.2.4. Thiết kế RIPv2 22
2.2.3. So sánh 22
III. Ứng dụng 24
3.1. Giới hạn 24
3.2. Bảo mật 25
3.3. Ứng dụng 25
IV. Kết luận đánh giá và hướng phát triển 26
4.1 . Kết luận và đánh giá .22
4.2 . Hướng phát triển đề tài .23
4.3 .Tài liệu tham khảo 24
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

rd(r, d, s )], Crd(r, d, s -1)] , d r
Một khi node r nhận được thông tin véctơ khoảng cách ((d, Csd),…) từ nút s, r sẽ cập nhật bảng định tuyến tất cả các đích tới d trong tập chứa s.
Nếu ( Csd + crs < Crd hay Nrd = s) thì (Crd = Csd + crs và Nrd = s).
II. Giao thức định tuyến - RIP
2.1. Định tuyến theo véctơ khoảng cách
2.1.1. Đặc điểm
Định tuyến theo véctơ khoảng cách thực hiện truyền bản sao của bảng định tuyến từ bộ định tuyến này sang bộ định tuyến khác theo định kỳ. Việc cập nhật định kỳ giữa các bộ định tuyến giúp trao đổi thông tin khi cấu trúc mạng thay đổi.
Bộ định tuyến thu thập thông tin về khoảng cách đến các mạng khác, từ đó nó xây dựng và bảo trì một cơ sở dữ liệu về thông tin định tuyến trong mạng. Tuy nhiên, họat động theo thuật toán véctơ khoảng cách như vậy thì bộ định tuyến sẽ không biết được cấu trúc của toàn bộ hệ thống mà chỉ biết được các bộ định tuyến lân cận kết nối trực tiếp với nó.
Khi sử dụng định tuyến theo véctơ khoảng cách, bước đầu tiên là bộ định tuyến phải xác định các bộ định tuyến lân cận của nó. Các mạng kết nối trực tiếp vào cổng giao tiếp của bộ định tuyến sẽ có khoảng cách là 0. Còn đường đi tới các mạng không kết nối trực tiếp vào bộ định tuyến thì bộ định tuyến sẽ chọn đường nào tốt nhất dựa trên các thông tin mà nó nhận được từ các bộ định tuyến lân cận. Ví dụ như hình 1: bộ định tuyến A nhận được thông tin về các mạng khác từ bộ định tuyến B. Các thông tin này được đặt trong bảng định tuyến với véctơ khoảng cách đã được tính toán lại cho biết từ bộ định tuyến A đến mạng đích thì đi theo hướng nào, khoảng cách bao nhiêu.
Bảng định tuyến
A
Bảng định tuyến
B
Bảng định tuyến
C
W
0
W
0
W
0
X
0
X
0
X
0
Y
1
Y
1
Y
1
Z
2
Z
1
Z
2
Hình 1: Khoảng cách của các bộ định tuyến đến các mạng.
Bảng định tuyến được cập nhật khi có cấu trúc mạng có sự thay đổi. Quá trình cập nhật này diễn ra từng bước một từ bộ định tuyến này sang bộ định tuyến khác. Khi cập nhật, mỗi bộ định tuyến gửi đi toàn bộ bảng định tuyến của nó cho các bộ định tuyến lân cận. Trong bảng định tuyến có thông tin về đường đi tới từng mạng đích: tổng chi phí cho đường đi, địa chỉ của bộ định tuyến kế tiếp.
2.1.2. Véctơ khoảng cách
Thuật toán véctơ khoảng cách (hay còn gọi thuật toán Bellman – Ford) yêu cầu của mỗi bộ định tuyến gửi một phần hay toàn bộ bảng định tuyến cho các bộ định tuyến lân cận kết nối trực tiếp với nó. Dựa vào thông tin cung cấp bởi các bộ định tuyến lân cận, thuật toán véctơ khoảng cách sẽ lựa chọn đường đi tốt nhất.
Sử dụng các giao thức định tuyến theo véctơ khoảng cách thường tốn ít tài nguyên của hệ thống nhưng tốc độ đồng bộ giữa các bộ định tuyến lại chậm và các thông số được sử dụng để chọn đường đi có thể không phù hợp với những hệ thống mạng lớn. Chủ yếu các giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách chỉ xác định đường đi bằng các bước nhảy và hướng đi đến đích. Theo thuật toán này, các bộ định tuyến sẽ trao đổi bảng định tuyến với nhau theo định kỳ. Do vậy loại định tuyến này đơn giản là mỗi bộ định tuyến chỉ trao đổi bảng định tuyến với các bộ định tuyến lân cận của mình. Khi nhận được bảng định tuyến từ các bộ định tuyến lân cận, bộ định tuyến sẽ lấy con đường nào đến mạng đích có chi phí thấp nhất rồi cộng thêm khoảng cách của mình vào đó thành một thông tin hoàn chỉnh về con đường đến mạng đích với hướng đi từ chính nó đến đích rồi đưa vào bảng định tuyến, sau đó bộ định tuyến lấy bảng định tuyến đó gửi đi cập nhật tiếp cho các bộ định tuyến kế cận khác.
Hình 2: Chuyển bảng định tuyến
2.1.3. Vấn đề và các phương pháp giải quyết lặp vòng
2.1.3.1. Vấn đề lặp vòng
a. Khái niệm
Khi mạng đích bị lỗi mà vẫn có gói tin chuyển tới. Nhưng vì mạng đích bị lỗi nên gói tin không thể chuyển tới đích của nó được do vậy nó sẽ chuyển hết mạng này đến mạng khác (do có những mạng ở xa mạng đích vẫn chưa biết mạng đích bị lỗi nên nó vẫn nghĩ là nó vẫn có đường tới mạng đích mà gói tin muốn chuyển tới) cứ như thế và sẽ không dừng lại gọi là lặp vòng. Hiện tượng này sẽ không dừng cho đến khi nào có một tiến trình khác cắt đứt quá trình này.
b. Quá trình xảy ra lặp vòng
Định tuyến lặp có thể xảy ra khi bảng định tuyến trên các bộ định tuyến chưa được cập nhật hội tụ do quá trình hội tụ chậm (Trạng thái hội tụ là tất cả các bộ định tuyến trong hệ thống mạng đều có thông tin định tuyến về hệ thống mạng và chính xác).
Hình 3: Hiện tượng lặp vòng
Trước hết Mạng 1 bị lỗi, tất cả các bộ định tuyến trong hệ thống mạng đều có thông tin đúng về cấu trúc mạng và bảng định tuyến là chính xác. Khi đó chúng ta nói các bộ định tuyến đã hội tụ. Giả sử rằng: Bộ định tuyến C chọn đường đến Mạng 1 bằng con đường qua bộ định tuyến B và khoảng cách của con đường từ bộ định tuyến C đến Mạng 1 là 3 (hop).
Ngay khi Mạng 1 bị lỗi, bộ định tuyến E liền gửi thông tin cập nhật cho bộ định tuyến A. Bộ định tuyến A lập tức ngừng việc định tuyến về Mạng 1. Nhưng bộ định tuyến B, C, D vẫn tiếp tục việc này vì chúng vẫn chưa biết về Mạng 1 bị lỗi. Sau đó bộ định tuyến A cập nhật thông tin về Mạng 1 cho bộ định tuyến B và D. Bộ định tuyến B, D lập tức ngừng định tuyến các gói dữ liệu về Mạng 1. Nhưng đến lúc này bộ định tuyến C vẫn chưa được cập nhật về Mạng 1 nên nó vẫn định tuyến các gói dữ liệu về Mạng 1 qua bộ định tuyến B.
Đến thời điểm cập nhật định kỳ của bộ định tuyến C, trong thông tin cập nhật của bộ định tuyến C gửi cho bộ định tuyến D vẫn chưa có thông tin về đường đến Mạng 1 qua bộ định tuyến B. Lúc này, bộ định tuyến D thấy rằng thông tin này tốt hơn thông tin báo ở Mạng 1 bị lỗi mà nó vừa nhận từ bộ định tuyến A lúc nãy. Do đó bộ định tuyến D cập nhật lại thông tin này vào bảng định tuyến mà không hay biết như vậy là sai. Lúc này, trên bảng định tuyến, bộ định tuyến D có đường tới Mạng 1 là đi qua bộ định tuyến C. Sau đó bộ định tuyến D lấy bảng định tuyến vừa mới cập nhật xong gửi cho bộ định tuyến A. Tương tự, bộ định tuyến A cũng cập nhật lại đường đến Mạng 1 lúc này là qua bộ định tuyến D rồi gửi cho bộ định tuyến B và E. Quá trình cứ tiếp tục xảy ra ở bộ định tuyến B và E . Khi đó, bất kỳ gói dữ liệu nào gửi tới Mạng 1 đều tới bị gửi lặp vòng từ bộ định tuyến C tới bộ định tuyến B tới bộ định tuyến A tới bộ định tuyến D rồi tới bộ định tuyến C.
2.1.3.2. Các phương pháp giải quyết lặp vòng
Lặp vòng có thể giải quyết bằng các phương pháp sau: Định nghĩa giá trị tối đa, đường cắt ngang, ngăn ngừa, cập nhật tức thời, thời gian giữ chậm.
Sau đây ta đi chi tiết vào từng phương pháp:
a. Tránh định tuyến vòng lặp bằng định nghĩa giá trị tối đa
Việc cập nhật sai về Mạng 1 như trên s...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top