boy_tu_lap1987

New Member
Download Khóa luận Sự hình thành và phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam

Download miễn phí Khóa luận Sự hình thành và phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam





MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU . 1
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ QUỐC TỊCH, SỰ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM . 3
1.1 Khái niệm, vai trò của quốc tịch . 3
1.2 Sơ lược sự hình thành của quan hệ quốc tịch trên thế giới . 4
1.3 Vài nét về quá trình hình thành pháp luật quốc tịch Việt Nam . . 6
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 tới năm 1988 . 6
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 tới năm 1998 . 8
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1998 tới năm 2008 . 9
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay . 11
1.4. Các nguyên tắc của pháp luật quốc tịch Việt Nam . 12
1.4.1 Quyền bình đẳng về quốc tịch . 13
1.4.2 Nguyên tắc một quốc tịch . 14
1.4.3 Nguyên tắc về chính sách bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài 16
Chương 2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ . 18
2.1 Xác lập quốc tịch Việt Nam . . 19
2.1.1. Có quốc tịch Việt Nam do sinh ra . 19
2.1.2. Nhập quốc tịch Việt Nam . . 23
2.1.3. Trở lại quốc tịch . 33
2.1.4. Giữ quốc tịch . . 39
2.1.5 Có quốc tịch theo Điều ước quốc tế . 40
2.2 Thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên, con nuôi 41
2.3 Mất quốc tịch . . . 44
2.3.1 Thôi quốc tịch Việt Nam . . 45
2.3.2 Tước quốc tịch . . 46
2.3.3 Mất quốc tịch theo một số trường hợp khác 47
2.4 Thời hạn giải quyết các việc về quốc tịch . 49
2.5 Đánh giá về luật quốc tịch Việt Nam qua từng thời kì 50
2.6 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quốc tịch của nước ta hiện nay . . 53
KẾT LUẬN . 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
 
 
 
 



Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

thể được nhập quốc tịch. Tuy nhiên, việc quy định như thế này rất dễ nảy sinh những trường hợp mà cá nhân mặc dù có thể đáp ứng những điều kiện nhất định về độ tuổi nhưng thiểu năng trí tuệ nên sẽ tạo thành gánh nặng đối với cộng đồng.
Đủ năng lực hành vi dân sự: Một người được coi là có đầy đủ năng lực hành vi dân sự khi và chỉ khi họ đủ tuổi thành niên và không bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự. Như vậy, pháp luật đã có thể hoàn toàn loại trừ những hệ quả pháp lý do trường hợp trên mang lại.
Thứ hai, phải có một thời gian cư trú nhất định trên lãnh thổ nước ta.
Pháp luật quốc tịch nước ta qua các thời kì phát triển đều quy định thời gian cư trú nhất định đối với người xin nhập quốc tịch. Tuy nhiên, tùy theo từng giai đoạn mà có sự hướng dẫn, giải thích khác nhau về thuật ngữ “cư trú”. Thời gian cư trú có thể được hiểu là thời gian thường trú hay bằng các khoảng thời gian tạm trú trên lãnh thổ Việt Nam cộng lại. Chính vì có sự khác nhau như vậy mà đã dẫn tới những khó khăn khi giải thích và áp dụng điều luật này trong thực tế. Trong lịch sử pháp luật quốc tịch đã có thời kì vấp phải sai lầm này và dẫn đến những hậu quả pháp lý trong thực tiễn cuộc sống (giai đoạn năm 1988 - 1998).
Trên thế giới, hầu hết pháp luật của các nước đều sử dụng thuật ngữ “thường trú”, điều này có thể được hiểu là một người có thể được nhập quốc tịch của một quốc gia chỉ khi họ cư trú liên tục trên lãnh thổ của nước đó trong một thời gian nhất định.
Thứ ba, yêu cầu về khả năng ngôn ngữ hay khả năng hòa nhập cộng đồng.
Một cá nhân chỉ có thể thỏa mãn điều kiện này khi người đó biết tiếng Việt ở một mức độ nhất định đủ để họ có thể hiểu biết lịch sử, văn hóa, xã hội của đất nước ta và hòa nhập được vào cộng đồng dân cư mới ở mức độ tối thiểu. Tuy nhiên, thông thường, người xin nhập quốc tịch phải có giấy chứng nhận biết tiếng Việt. Đây cũng là một quy định còn có nhiều tranh cãi trong pháp luật quốc tịch Việt Nam nhất là trước Luật quốc tịch năm 2008 và đã gây ra nhiều vướng mắc và bất cập trong thực tiễn áp dụng.
Thứ tư, điều kiện về tư tưởng chính trị.
Bên cạnh các điều kiện về nhân thân, những yêu cầu về tư tưởng chính trị cũng là một nội dung đặc biệt quan trọng. Để hạn chế khả năng người nhập quốc tịch có thể làm phương hại tới nền chủ quyền, an ninh, trật tự xã hội của nước mà cá nhân đó xin nhập quốc tịch, pháp luật quốc tịch thế giới qua các thời kì đều quy định điều kiện này dưới các hình thức khác nhau như quy định không cho phép người có xu hướng chính trị đối lập nhập quốc tịch hay được thể hiện bằng các ngôn từ khác như: “hạnh kiểm tốt”, “đạo đức tốt”, “tuân thủ Hiến pháp và pháp luật” ... [19, tr 51]. Nhưng do đây là một quy định khá chung chung và không rõ ràng về mặt ngữ nghĩa nên pháp luật quốc tịch nước ta cần có một sự giải thích pháp lý tương ứng.
Cá nhân xin nhập quốc tịch chỉ có thể được nhập quốc tịch khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện trên. Tuy nhiên trong một số trường hợp, đương sự có thể được miễn giảm các điều kiện. Xuyên suốt lịch sử phát triển, bên cạnh các quy định về điều kiện nhập quốc tịch, nhà nước ta còn quy định các trường hợp được miễn giảm những điều kiện trên. Đây thường là những đối tượng đặc biệt như: đóng góp vào cuộc cách mạng của Việt Nam (pháp luật những năm 1945) hay có mối quan hệ thân thích, huyết thống với công dân Việt Nam (những thời kì sau năm 1945) .v.v.
Quốc tịch liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia nên bên cạnh các quy định trên, luật quốc tịch còn quy định những trường hợp không được nhập quốc tịch. Trong lịch sử pháp luật quốc tịch Việt Nam, nội dung này chỉ bắt đầu được quy định từ luật quốc tịch năm 1998 và được giữ nguyên tại luật năm 2008, mà cụ thể là người xin nhập quốc tịch không được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam. Thế nhưng, cho đến nay vẫn chưa có một sự giải thích pháp lý rõ ràng thế nào là “phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam” nên quy định này một phần nào đã gặp khó khăn trong việc áp dụng, thực hiện trên thực tế.
Giai đoạn từ năm 1945 tới năm 1988
Trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên ở nước ta, pháp luật còn bảo đảm cho cả những người nước ngoài đã sinh sống lâu năm và tỏ lòng trung thành với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được nhập quốc tịch nước ta để có thể hưởng quyền bầu cử. Vì vậy ngày 7/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 73/SL quy định điều kiện, thủ tục để người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam để họ trở thành công dân Việt Nam và được hưởng quyền bầu cử.
Tuy nhiên trong khi đó, các thế lực thù địch luôn đe dọa phá hoại chính quyền non trẻ của ta bằng mọi thủ đoạn. Do vậy các điều kiện nhập quốc tịch thời kì này được đánh giá là khá chặt chẽ trong lịch sử pháp luật quốc tịch Việt Nam. Ngoài các nội dung cơ bản như biết tiếng nói Việt Nam, đủ 18 tuổi trở lên, sắc lệnh số 73/SL còn quy định thời gian cư trú phải từ 10 năm, có nơi cư trú nhất định trên lãnh thổ nước ta ... Những quy định này đã đáp ứng được yêu cầu lịch sử lúc bấy giờ. Tuy nhiên, nó vẫn còn bộc lộ một số hạn chế sau:
Người muốn nhập quốc tịch phải đủ 18 tuổi. Với việc quy định như vậy, các nhà làm luật đã không thể bao quát được trong thực tế những trường hợp người nhập quốc tịch sẽ trở thành gánh nặng cho đất nước nếu họ bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Điều kiện chính trị: Người xin nhập quốc tịch phải “có hạnh kiểm tốt”. Trong các văn bản về quốc tịch giai đoạn này chưa có một quy định giải thích, hướng dẫn cụ thể. Điều đó đã tạo nên những khó khăn khi thực hiện, áp dụng điều luật trong thực tiễn cuộc sống hay chỉ có thể tạo ra được một quy định trên giấy do sự chung chung, không rõ ràng của điều luật.
Sắc lệnh số 73/SL là văn bản đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa quy định về việc “nhập quốc tịch”. Nhìn chung, các điều kiện để nhập quốc tịch thời kì này đã đáp ứng được các yêu cầu, hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên, do đây là sự ghi nhận đầu tiên trong lịch sử pháp luật quốc tịch nước ta nên những quy định này vẫn tồn tại nhiều thiếu sót, hạn chế.
Giai đoạn từ năm 1988 tới năm 1998:
Như trên đã phân tích, các điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam trong Sắc lệnh số 73/SL rất chặt chẽ. Những quy định này chỉ nhằm tạo điều kiện cho những người không có quốc tịch Việt Nam đã làm ăn, sinh sống, định cư lâu dài trên nước ta được nhập quốc tịch trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài. Tới khi đất nước thống nhất, nhà nước ta đang thực hiện chính sách mở cửa, giao lưu đối ngoại với nhiều nước trên thế giới, sự có mặt của người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng tăng thì điều lu
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
D sự hình thành và phân hủy của diacetyl trong sản xuất đồ uống có cồn Khoa học Tự nhiên 0
D Sự hình thành khái niệm phản ứng hóa học trong chương trình hóa học phổ thông Luận văn Sư phạm 0
D Tác động của việc tham gia các hoạt động tình nguyện đối với sự hình thành kỹ năng giao tiếp và kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên trường đại học Văn hóa, Xã hội 0
D CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ: KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC Khoa học kỹ thuật 0
V Nghiên cứu các thành phần kinh tế ở Việt Nam và sự hình thành các tổng công ty và tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam Luận văn Kinh tế 0
H Nghiên cứu sự hình thành Enzyme α - Amylaze trong thóc để làm thế liệu trong sản xuất bia Khoa học Tự nhiên 2
O Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần xây dựng số 7 - Vinaconex no 7 Luận văn Kinh tế 0
G Sự hình thành và phát triển của công ty Aasc Luận văn Kinh tế 0
C Sự hình thành và phát triển của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Luận văn Kinh tế 0
C Quá trình chuẩn bị cho sự hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam Luận văn Kinh tế 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top