Download miễn phí Tiểu luận Thực trạng về việc quản lý và bảo vệ rừng ở tỉnh DakLak năm 2008-2009
Phụ lục:
Phần 1: Phần mở đầu.
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
Phần 2: Tổng quan về tài liệu.
Phần 3: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu.
4.1: Phân tích thực trạng.
4.2: Định hướng và giải pháp.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Phần 1 : Phần mở đầu.
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trên thế giới rừng từ lâu là lá phổi xanh của Trái Đất, nếu như tất cả thực vật trên Trái đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở trạng thái khí tuyệt đối là 64%) thì rừng chiếm 37 tỷ tấn (70%) và các cây rừng sẽ thải ra 52,5 tỷ tấn (hay 44%), dưỡng khí để phục vụ cho hô hấp của con người, động vật và sâu bọ trên Trái đất trong khoảng 2 năm. Không những thế rừng còn đóng vai trò như một động lực phát triển nền kinh tế ở những nước có nền kinh tế đang phát triển bởi những lâm sản gỗ và phi gỗ mà rừng cung cấp.
Ở nước ta rừng đã được xem là tài nguyên quý giá của đất nước, và ta đã tự hào vì nước ta có được “ Rừng vàng biển bạc “ với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên tài nguyên rừng trong những năm gần đây đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng.
Trong những năm chiến tranh rừng đóng vai trò quan trọng giúp quân và dân ta có thể ẩn nấu. Cũng vì vậy mà rừng là nơi luôn là nơi bị địch đánh phá làm diện tích rừng bị suy giảm. những năm trước đổi mới thì rừng lại là nơi cung cấp tài nguyên để có thể phát triển đất nước làm tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Vấn đề cấp bách được đặt ra lúc này là phải có chính sách quản lý và bảo vệ rừng một cách toàn diện để có thể vừa có thể bảo vệ tài nguyên rừng vừa để bảo tồn và phát triển được tài nguyên rừng.
Từ sau 1986, Việt Nam chuyển hướng quản lý nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung quan lieu bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Mục đích làm giảm bớt vai trò của Chính phủ, tăng trách nhiệm cho chính quyền địa phương và tạo sự chủ động cho các đơn vị sản xuất kinh doanh. Ngành lâm nghiệp cũng chuyển đổi từ nền lâm nghiệp dựa vào khai thác gỗ sang phát triển toàn diện gắn khai thác với tái sinh rừng, từ cách độc canh, quảng canh cây rừng sang thâm canh theo hướng nông-lâm kết hợp, từ từ một nền lâm nghiệp nhà nước quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, lấy quốc doanh làm chủ lực sang laam nghiệp xã hội, sản xuất hang hoá dựa trên cơ cấu nhiều thành phần, lấy hộ nông dân làm đơn vị kinh tế tự chủ, coi trọng tự chủ của cá thể, chính điều này đã làm cho cách quản lý tài nguyên rừng đa dạng.
Với những chính sách đổi mới về lâm nghiệp từ sau khi đổi mới đã có những kết quả khả quan khi diện tích rừng đã có dấu hiệu phục hồi. Đó là những kết quả tổng hợp trên cả nước. Tuy nhiên ở từng địa phương lại có những kết quả và những tồn tại khác nhau. Chính vì vậy chúng tui quyết định chọn đề tài “ Thực trạng về việc bảo vệ và quản lý rừng ở DakLak”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát.
Phản ánh tổng quát được thực trạng về diện tích rừng và quản lý, bảo vệ rừng ở Daklak năm 2008-2009
1.2.2 Mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu phân tích thực trạng: đánh giá đúng thực trạng về công tác bảo vệ và quản lý rừng ở Dăklak
Mục tiêu về phân tích nguyên nhân: trình bày và phân tích những nguyên nhân cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến công tác bảo vệ và quản lý rừng.
Mục tiêu nêu lên định hướng và giải pháp: trình bày những định hướng đúng đắn và các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ và quản lý tài nguyên rừng.
Phần 2 : Tổng quan về tài liệu.
Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác.
Bảo vệ rừng là công tác nhằm bảo tồn những lâm sản gỗ và phi gỗ rừng.
Quản lý rừng là gồm các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra như :sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ...; phòng hộ môi trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo vệ chống cát bay, chống sạt lở đất...; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái...
Phần 3 : Đặc điểm địa bàn nghiên cứu.
Daklak là một tỉnh thuộc sườn phía tây nam dãy Trường Sơn nên địa hình núi cao chiếm 35% diện tích tự nhiên, tập trung ở phía Nam và Đông Nam tỉnh với độ cao trung bình 1000-1200m.
Daklak có diện tích tự nhiên là 13.058 km2, chiến 3.9% diện tích tự nhiên của cả nước Việt Nam.
Địa hình cao nguyên bằng phẳng nằm ở giữa tỉnh, chiếm 53% diện tích tự nhiên với độ cao trung bình 450 m. Phần diện tích tự nhiên còn lại là vùng thấp, bao gồm những bình nguyên ở phía bắc tỉnh và ở phía nam thành phố Buôn Ma Thuột. Đáng chú ý là diện tích đất đỏ bazan rất lớn chiếm khoảng 1/3 diện tích tự nhiên thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, điều, hồ tiêu và cây ăn quả.
Do đặc điểm vị trí địa lý, địa hình nên khí hậu ở Đăk Lăk vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên mát dịu. Song chịu ảnh hưởng phát triển nhất chủ yếu vẫn là khí hậu Tây Trường Sơn.
Thời tiết chia 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt khoảng 1.600 – 1.800 mm. Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 82%.
Dân số tỉnh theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 là 1.728.380 người người, mật độ dân số 132 người/km2. Đắk Lắk có 44 dân tộc, trong đó người Ê Đê và người M'Nông là những dân tộc bản địa chính.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu.
4.1 Phân tích thực trạng diện tích rừng của tỉnh Daklak từ năm 2008 đến năm 2009.
Sau khi trải qua 2 giai đoạn với 8 năm thực hiện “Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng” của Chính phủ (1998-2005). Mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều khuyết điểm nhưng chúng ta cũng đã đạt được những thành quả nhất định. Cụ thể là cả nước đã trồng được 1.424.135 ha rừng, tuy chỉ đạt 28,5% so với mục tiêu đề ra nhưng dự án đã góp phần nâng độ che phủ của rừng ở Việt Nam lên 36,7%( tăng 3,5 % so với năm 1999).Theo như kế hoạch đề ra thì giai đoạn 3 (2006-2010) chúng ta sẽ trồng được 2 triệu hecta rừng.
Đã có rất nhiều tỉnh tham gia vào Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng và có một số tỉnh hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng phòng hộ như Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bình Định, Daklak…
Ở tỉnh Daklak tính từ cuối năm 2005 diện tích có rừng là 604,293, trong đó có 585,939 hecta là rừng tự nhiên và 18,354 là rừng trồng.Đến cuối năm diện tích có rừng là 2008 là 628,977 hecta và đến cuối năm 2009, cả tỉnh đã có 633,175 hecta diện tích có rừng tăng 28,882 hecta, trong đó rừng tự nhiên chiếm 571,939 hecta, còn rừng trồng là 61,236 hecta.
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Phụ lục:
Phần 1: Phần mở đầu.
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
Phần 2: Tổng quan về tài liệu.
Phần 3: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu.
4.1: Phân tích thực trạng.
4.2: Định hướng và giải pháp.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Phần 1 : Phần mở đầu.
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trên thế giới rừng từ lâu là lá phổi xanh của Trái Đất, nếu như tất cả thực vật trên Trái đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở trạng thái khí tuyệt đối là 64%) thì rừng chiếm 37 tỷ tấn (70%) và các cây rừng sẽ thải ra 52,5 tỷ tấn (hay 44%), dưỡng khí để phục vụ cho hô hấp của con người, động vật và sâu bọ trên Trái đất trong khoảng 2 năm. Không những thế rừng còn đóng vai trò như một động lực phát triển nền kinh tế ở những nước có nền kinh tế đang phát triển bởi những lâm sản gỗ và phi gỗ mà rừng cung cấp.
Ở nước ta rừng đã được xem là tài nguyên quý giá của đất nước, và ta đã tự hào vì nước ta có được “ Rừng vàng biển bạc “ với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên tài nguyên rừng trong những năm gần đây đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng.
Trong những năm chiến tranh rừng đóng vai trò quan trọng giúp quân và dân ta có thể ẩn nấu. Cũng vì vậy mà rừng là nơi luôn là nơi bị địch đánh phá làm diện tích rừng bị suy giảm. những năm trước đổi mới thì rừng lại là nơi cung cấp tài nguyên để có thể phát triển đất nước làm tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Vấn đề cấp bách được đặt ra lúc này là phải có chính sách quản lý và bảo vệ rừng một cách toàn diện để có thể vừa có thể bảo vệ tài nguyên rừng vừa để bảo tồn và phát triển được tài nguyên rừng.
Từ sau 1986, Việt Nam chuyển hướng quản lý nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung quan lieu bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Mục đích làm giảm bớt vai trò của Chính phủ, tăng trách nhiệm cho chính quyền địa phương và tạo sự chủ động cho các đơn vị sản xuất kinh doanh. Ngành lâm nghiệp cũng chuyển đổi từ nền lâm nghiệp dựa vào khai thác gỗ sang phát triển toàn diện gắn khai thác với tái sinh rừng, từ cách độc canh, quảng canh cây rừng sang thâm canh theo hướng nông-lâm kết hợp, từ từ một nền lâm nghiệp nhà nước quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, lấy quốc doanh làm chủ lực sang laam nghiệp xã hội, sản xuất hang hoá dựa trên cơ cấu nhiều thành phần, lấy hộ nông dân làm đơn vị kinh tế tự chủ, coi trọng tự chủ của cá thể, chính điều này đã làm cho cách quản lý tài nguyên rừng đa dạng.
Với những chính sách đổi mới về lâm nghiệp từ sau khi đổi mới đã có những kết quả khả quan khi diện tích rừng đã có dấu hiệu phục hồi. Đó là những kết quả tổng hợp trên cả nước. Tuy nhiên ở từng địa phương lại có những kết quả và những tồn tại khác nhau. Chính vì vậy chúng tui quyết định chọn đề tài “ Thực trạng về việc bảo vệ và quản lý rừng ở DakLak”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát.
Phản ánh tổng quát được thực trạng về diện tích rừng và quản lý, bảo vệ rừng ở Daklak năm 2008-2009
1.2.2 Mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu phân tích thực trạng: đánh giá đúng thực trạng về công tác bảo vệ và quản lý rừng ở Dăklak
Mục tiêu về phân tích nguyên nhân: trình bày và phân tích những nguyên nhân cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến công tác bảo vệ và quản lý rừng.
Mục tiêu nêu lên định hướng và giải pháp: trình bày những định hướng đúng đắn và các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ và quản lý tài nguyên rừng.
Phần 2 : Tổng quan về tài liệu.
Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác.
Bảo vệ rừng là công tác nhằm bảo tồn những lâm sản gỗ và phi gỗ rừng.
Quản lý rừng là gồm các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra như :sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ...; phòng hộ môi trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo vệ chống cát bay, chống sạt lở đất...; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái...
Phần 3 : Đặc điểm địa bàn nghiên cứu.
Daklak là một tỉnh thuộc sườn phía tây nam dãy Trường Sơn nên địa hình núi cao chiếm 35% diện tích tự nhiên, tập trung ở phía Nam và Đông Nam tỉnh với độ cao trung bình 1000-1200m.
Daklak có diện tích tự nhiên là 13.058 km2, chiến 3.9% diện tích tự nhiên của cả nước Việt Nam.
Địa hình cao nguyên bằng phẳng nằm ở giữa tỉnh, chiếm 53% diện tích tự nhiên với độ cao trung bình 450 m. Phần diện tích tự nhiên còn lại là vùng thấp, bao gồm những bình nguyên ở phía bắc tỉnh và ở phía nam thành phố Buôn Ma Thuột. Đáng chú ý là diện tích đất đỏ bazan rất lớn chiếm khoảng 1/3 diện tích tự nhiên thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, điều, hồ tiêu và cây ăn quả.
Do đặc điểm vị trí địa lý, địa hình nên khí hậu ở Đăk Lăk vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên mát dịu. Song chịu ảnh hưởng phát triển nhất chủ yếu vẫn là khí hậu Tây Trường Sơn.
Thời tiết chia 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt khoảng 1.600 – 1.800 mm. Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 82%.
Dân số tỉnh theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 là 1.728.380 người người, mật độ dân số 132 người/km2. Đắk Lắk có 44 dân tộc, trong đó người Ê Đê và người M'Nông là những dân tộc bản địa chính.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu.
4.1 Phân tích thực trạng diện tích rừng của tỉnh Daklak từ năm 2008 đến năm 2009.
Sau khi trải qua 2 giai đoạn với 8 năm thực hiện “Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng” của Chính phủ (1998-2005). Mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều khuyết điểm nhưng chúng ta cũng đã đạt được những thành quả nhất định. Cụ thể là cả nước đã trồng được 1.424.135 ha rừng, tuy chỉ đạt 28,5% so với mục tiêu đề ra nhưng dự án đã góp phần nâng độ che phủ của rừng ở Việt Nam lên 36,7%( tăng 3,5 % so với năm 1999).Theo như kế hoạch đề ra thì giai đoạn 3 (2006-2010) chúng ta sẽ trồng được 2 triệu hecta rừng.
Đã có rất nhiều tỉnh tham gia vào Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng và có một số tỉnh hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng phòng hộ như Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bình Định, Daklak…
Ở tỉnh Daklak tính từ cuối năm 2005 diện tích có rừng là 604,293, trong đó có 585,939 hecta là rừng tự nhiên và 18,354 là rừng trồng.Đến cuối năm diện tích có rừng là 2008 là 628,977 hecta và đến cuối năm 2009, cả tỉnh đã có 633,175 hecta diện tích có rừng tăng 28,882 hecta, trong đó rừng tự nhiên chiếm 571,939 hecta, còn rừng trồng là 61,236 hecta.
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:
You must be registered for see links
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí