Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết Nối
Theo giấy phép đầu tư, CSVL (cổ đông là các công ty cao su thuộc Tổng công ty Cao su Việt Nam) được đầu tư 22 triệu USD tại Lào để trồng 10.000 ha cao su tại tỉnh Champasak. Các cổ đông của Công ty đã chuyển vài chục tỉ đồng đến Ngân hàng Liên doanh Lào Việt chi nhánh Tp.HCM, nhưng Ngân hàng này chưa thể chuyển sang Lào vì còn chờ giấy phép chuyển ngoại tệ từ Ngân hàng Nhà nước. CSVL đành phải chờ đợi trong tâm trạng sợ lỡ thời vụ sản xuất và tốn kém.
Theo qui định, doanh nghiệp muốn đầu tư ra nước ngoài phải đáp ứng được ba điều kiện: Có dự án khả thi, có năng lực tài chính và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Khi chuyển tiền ra nước ngoài, thủ tục phải theo qui định của Ngân hàng Nhà nước.
Thế nhưng, thủ tục chuyển tiền đã được ban hành từ rất lâu, khi mà nguồn ngoại tệ quốc gia còn hạn hẹp và khái niệm đầu tư ra nước ngoài còn rất xa lạ, nên gần như doanh nghiệp không nhận được hỗ trợ gì. Các doanh nghiệp ĐTRNN giờ đây phải chờ đợi nhiều thủ tục, vì các qui định về ĐTRNN đã lạc hậu so với thực tiễn hiện nay.
Rất hiếm, thậm chí là không có ngân hàng thương mại nào chấp nhận cho các DN vay ngoại tệ để ĐTRNN. Bởi hai lý do: Một là, các ngân hàng thương mại không có cơ chế để quản lý nguồn tiền vay khi họ không có văn phòng thay mặt ở quốc gia mà DN đầu tư. Mặt khác, một nguyên nhân chính khiến giới DN nản lòng là các thương vụ tại các đại sứ quán của ta ở nước ngoài chưa làm tròn bổn phận là cầu nối làm ăn với DN trong nước. Hai là, mặc dù việc vay ngoại tệ đã được quy định trong Nghị định 22/1999/NĐ/CP, song cơ chế quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước hiện nay chưa quy định về quản lý đồng tiền ĐTRNN. Không chỉ khó khăn trong việc vay vốn, hiện nay các thủ tục chuyển tiền ra nước ngoài và chuyển lợi nhuận từ nước ngoài về Việt Nam cũng đang là vấn đề bức xúc của nhiều DN.
Hạn chế về vốn là khó khăn tiếp theo. DN thành lập theo Luật DN chỉ được phép đầu tư ra nước ngoài dưới 1 triệu USD bao gồm cả máy móc, nhà xưởng, thiết bị công nghệ. Còn DN nhà nước nếu đầu tư ra nước ngoài từ trên 1 triệu USD phải được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ. Những quy định này được thể hiện tại Nghị định 22/NĐ-CP ngày 4 tháng 4 năm 1999) của Chính phủ đang làm nản lòng rất nhiều DN đã và đang đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt đối với các DN hoạt động theo Luật DN. Về điều này, nhiều người cho rằng: “Nếu doanh nghiệp hoạt động theo Luật DN chỉ được đầu tư dưới 1 triệu USD ra nước ngoài là không hợp lý, bởi năng lực tài chính, công nghệ và nhiều khả năng khác của giới DN nước ta hiện lớn hơn nhiều. Việt Nam đang tiến tới một Luật DN chung và Luật đầu tư chung, nhằm kêu gọi tốt hơn nữa nguồn vốn đầu tư và công bằng trong chính sách, vậy thì tại sao không tạo mọi điều kiện tốt nhất để DN ta có thể ĐTRNN? cần biết là, còn có nhiều nước cùng kiệt hơn ta đang cần vốn, cần công nghệ của các nước giàu. Trong khi nhiều nước giàu không thèm ngó ngàng đến họ, thì sao ta lại bỏ qua, trong khi đầu tư này rất phù hợp với nhiều DN Việt Nam”. Có người còn nói, quy định như vậy thì chúng tui chỉ dám mở các đại lý phân phối hàng, chứ làm sao dám đầu tư thiết bị nhà xưởng khép kín từ dệt đến may...
Về vấn đề thủ tục hành chính: DN nước ngoài vào Việt Nam đầu tư được tạo điều kiện cấp phép trong vòng 30-45 ngày, còn DNVN ĐTRNN thủ tục lại lòng vòng, thậm chí còn bị cản trở. Mặc dù Nghị định đã quy định thời gian cấp phép ĐTRNN không quá 30 ngày, nhưng với thủ tục rườm rà thì có nhiều dự án kéo dài nhiều tháng, đôi khi cả năm, khiến cho DN lỡ mất cơ hội đầu tư. Có thể nói, cho đến nay tình hình chậm về thủ tục hành chính vẫn chưa được cải thiện, nhiều DN muốn đầu tư ra nước ngoài vẫn phải dài cổ chờ đợi.
Tuy nhiên, phần lớn DN vẫn chỉ quanh quẩn ở giai đoạn thủ tục, mà nguyên nhân cơ bản là DN gặp quá nhiều khó khăn, trong đó có nhiều vấn đề nằm ngoài khả năng của DN.
Do nhu cầu, nên nhiều người phải ra nước ngoài thường xuyên, nên mất rất nhiều thời gian để xin thị thực nhập cảnh. Thậm chí, có doanh nghiệp có Giấy phép đầu tư đã lâu, nhưng đến giờ vẫn chưa được phía bạn cho phép vào làm ăn, vì họ sợ mình đầu tư giả để di dân.
Nhiều người so sánh, doanh nhân ở nhiều nước đi lại hầu như không phải xin thị thực, do nước họ đã ký hiệp định miễn thị thực với nhiều nước. Ngoài ra, nhiều khoản chi phí phụ cũng là vấn đề khó khăn cho DN ĐTRNN. Nhiều DN phàn nàn, hiện thủ tục làm ăn ở nước ngoài không tìm được luật sư trong nước để tư vấn, phải thuê luật sư nước ngoài nên rất tốn kém. Mỗi lần thuê như vậy, chưa biết kết quả ra sao, nhưng trước hết, DN Việt Nam phải nộp tiền vào tài khoản của họ ít nhất cũng vài chục nghìn USD.
Đầu tư ra nước ngoài đối với Việt Nam là một hướng đi mới mang tính hấp dẫn cao. Đó là một tiềm năng to lớn trong việc giúp DN mở rộng thị trường, nâng vị thế và hình ảnh của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, việc đầu tư không hoàn toàn dễ, bởi thực tế vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc như kể trên.
Ngay những nhà quản lý cũng phải thừa nhận, hiện nay, việc hỗ trợ DN VN đầu tư ra nước ngoài còn bị hạn chế ngay trong nhận thức. Nhiều người vẫn lo ngại rằng, nếu khơi thông dòng vốn từ trong nước đổ ra bên ngoài sẽ khiến đầu tư trong nước bị giảm sút, ảnh hưởng đến mức đầu tư trong nước và mục tiêu giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
2 - Những hạn chế của pháp luật đối với DN DTRNN
Bên cạnh đó, Hệ thống pháp luật về đầu tư ra nước ngoài cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định, như quy định thiếu cụ thể, thiếu nhất quán. Thủ tục hành chính phức tạp, không ít quy định can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động kinh doanh của DN. Tình trạng dự án thuộc diện đăng ký cấp phép đầu tư, nhưng trong quá trình xử lý vẫn gửi lấy ý kiến các bộ - ngành làm kéo dài thời gian cấp phép.
Những qui định về mặt pháp lý vẫn còn quá chặt, đặc biệt qui định của Nghị định số 22/NĐ-CP, ngày 14/4/1999, của Chính phủ về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam về việc chuyển tiền ra nước ngoài còn nhiều khó khăn.
Qua 5 năm thực hiện, Nghị định này đã bộc lộ nhiều nhược điểm, có những điểm không còn phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, như:
- Qui định còn thiếu cụ thể, đồng bộ, nhất quán. Có không ít những điều khoản đến nay không còn phù hợp, không bao quát được sự đa dạng của các hình thức đầu tư ra nước ngoài.
- Các văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư ra nước ngoài còn nhiều hạn chế, chưa lường hết được những vấn đề phát sinh trong quá trình thẩm định, cấp phép và triển khai dự án…
- Các thông tin về tình hình hoạt động của các dự án hầu như không được cập nhật, do thiếu những văn bản hướng dẫn cụ thể và cơ chế kiểm soát về hoạt động đầu tư ra nước ngoài, bên cạnh đó lại không có các chế tài cụ thể.
- Chưa có một cơ chế phối hợp cụ thể giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là trong khâu triển khai thực hiện dự án.
- Thủ tục hành chính tuy đã có những tiến bộ, nhưng nhìn chung vẫn còn quá phức tạp, rườm rà; hiệu quả đầu tư chưa cao; không ít qui định can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Quy trình đăng ký và thẩm định cấp giấy phép còn phức tạp. Thủ tục điều chỉnh giấy phép đầu tư chưa được rõ ràng, gây mất nhiều thời gian cho doanh nghiệp.














KẾT LUẬN
Chúng ta đã đến ngưỡng cửa của hội nhập toàn diện và người ta không chỉ đến mình mà mình cũng phải tranh thủ để vào thị trường các nước. Do đó, phải xem đầu tư ra nước ngoài là một xu hướng tất yếu của doanh nghiệp Việt Nam, nên có hướng dẫn và tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam vươn xa hơn. Nếu chúng ta không làm bây giờ sẽ rất muộn bởi không tận dụng được sân chơi toàn cầu mà các nước sẽ mở rộng cửa cho các doanh nghiệp Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Sự chuẩn bị này không chỉ dừng lại ở việc trang bị thêm kiến thức mà Nhà nước nên có những chính sách về vốn để hỗ trợ các dự án thiết thực và hiệu quả khi doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài. Chúng ta đã ban hành Nghị định 22 qui định về các chính sách trong việc đầu tư ra nước ngoài, và mới đây trong dự thảo Luật đầu tư chung cũng có một chương riêng về đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ, cần có một cơ quan chuyên môn hỗ trợ doanh nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài, tập trung hỗ trợ để doanh nghiệp có thể khẳng định được tên tuổi ở các nước.
Về thị trường, chúng ta nên nhắm đến những thị trường dễ chấp nhận các sản phẩm và công nghệ Việt Nam như châu Phi, ASEAN… Phải xem việc đầu tư ra nước ngoài là một bộ phận để phát triển mở rộng thị trường, là cầu nối thúc đẩy thương mại phát triển. Vì vậy, nếu có những dự án tốt, phù hợp nhưng doanh nghiệp thiếu vốn thì Nhà nước cần thiết phải có chính sách hỗ trợ, như cho vay vốn ưu đãi.
Đây là tất cả những hiểu biết và những kiến nghị của cá nhân tui trong giới hạn khuôn khổ bài Tiểu luận này. Có thể vẫn có những thiếu xót, tui rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp để hoàn thiện hơn nữa.




MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương I. Khái quát về đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài 2
1.1. Khái niệm về đầu tư ra nước ngoài 2
1.2. Vai trò của hoạt động đầu tư ra nước ngoài 2
1.3. Thực trạng đầu tư ra nước ngoài 3
Chương II. Thực trạng pháp luật về đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài 5
2.1. Chủ thể hoạt động đầu tư ra nước ngoài 5
2.2. Lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài 6
2.3. Hình thức đầu tư 6
2.4. Thủ tục đầu tư ra nước ngoài 7
2.5. Điều kiện cấp giấy phép chứng nhận đầu tư 9
2.6. Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư ra nước ngoài 10
Chương III. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về đầu tư Việt Nam ra nước ngoài 12
1. Những khó khăn của doanh nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài 13
2. Những hạn chế của pháp luật đối với DN DTRNN 17
KẾT LUẬN 19



Link Download bản DOC
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:

 
Last edited by a moderator:

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top