Download Đề tài Tìm hiểu pháp luật về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng và các biện pháp bảo đảm an toàn miễn phí
Các giao dịch bảo đảm tiền vay bằng tài sản đóng vai trò to lớn trong việc cấp tín dụng, vừa giảm nguy cơ thiệt hại cho chủ nợ có bảo đảm, vừa góp phần làm cho các quan hệ vay vốn ngày càng minh bạch, có hiệu quả. Để các giao dịch bảo đảm tiền vay bằng tài sản an toàn đối với các khoản vay, tài sản bảo đảm phải thoả mãn các điều kiện: tài sản phải thuộc quyền sở hữu hay quyền sử dụng, quản lý của khách hàng vay bên bảo lãnh, tài sản được phép giao dịch, tức là tài sản mà pháp luật cho phép hay không cấm mua bán, tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, và các giao dịch khác, tài sản không có tranh chấp về quyền sử dụng hay quyền sở hữu tại thời điểm ký kết hợp đồng đảm bảo. Đối với những tài sản mà pháp lụât quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng vay hay bên bảo lãnh phải mua bảo hiểm tài sản trong thời hạn bảo đảm tiền vay.Giao dịch bảo đảm tiền vay giữa khách hàng và TCTD là sự cam kết nghĩa vụ trả nợ tiền vay của khách hàng cho TCTD, hình thức thể hiện là hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản của người vay hay tài sản của người bảo lãnh, đây vừa là một giao dịch dân sự, vừa là hợp đồng phụ đi kèm với hợp đồng chính là HĐTD.
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
đã thoả thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã ký tên, đóng dấu (nếu có) và văn bản hợp đồng tín dụng. Theo quy định này việc chuyển giao tiền vay (giải ngân) là một nghĩa vụ hợp đồng của bên cho vay và nếu họ không thực hiện đúng hợp đồng này mà lại gây thiệt hại tính được thành tiền cho bên vay thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm nộp phạt vi phạm hợp đồng và chịu cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại.Sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng và các hậu quả pháp lý của sự vô hiệu:HĐTD đựơc coi là vô hiệu tuyệt đối khi mục đích, nội dung và hình thức của hợp đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật hay trái đạo đức xã hội hay phương hại đến lợi ích chung. Khi đó, bất ky ai quan tâm (chứ không phải là các bên ký kết hợp đồng) đều có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng tín dụng vô hiệu và thời hạn thực hiện quyền yêu cầu này là không hạn chế. Trong trường hợp vô hiệu tuyệt đối của hợp đồng tín dụng, các hậu quả pháp lý xảy ra cho sự vô hiệu này là: Hợp đồng không phát sinh hiệu lực kể từ thời đỉêm ký kết, các bên phải phục hồi tình trạng ban đầu như trước khi ký kết hợp đồng.
HĐTD bị coi là vô hiệu tương đối khi chủ thể tham gia hợp đồng không có hành vi dân sự hay hợp đồng ký kết không có sự tự nguyện và đồng thuận giữa các bên ký kết. Đối với trường hợp này, do việc ký kết hợp đồng tín dụng chỉ phương hại đến lợi ích chung của các bên ký kết chứ không vi phạm các điều cấm của pháp luật hay không phương hại đến trật tự công, lợi ích công nên Nhà nước cần tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên, bằng cách chỉ tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng khi nhận được yêu cầu của các bên hay của một bên có quyền lợi bị phương hại, hay tạo cơ hội cho các bên tự khắc phục các vi phạm dẫn đến nguy cơ hợp đồng bị vô hiệu. Với trường hợp này, chỉ khi nào hết thời hạn cho phép để khắc phục các vi phạm đó nhưng các bên không thể khắc phục được thì khi đó, yêu cầu của bên có quyền lợi bị phương hại. Toà án mới chính thức tuyên bố HĐTD bị vô hiệu.
2.2.Những quy định của pháp luật về một số vấn đề khác đối với hoạt động cho vay của TCTD.
2.2.1.Quy định về nguyên tắc vay vốn và điều kiện vay vốn
Những quy định về nguyên tắc vay vốn tại điều 6 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN” Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo: Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
….Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng”.
Những quy định về điều kiện vay vốn được quy định tại các văn bản:Luật các TCTD sửa đổi bổ sung năm 2004,điều 7 Quyết đinh 1627/2001/QĐ-NHNN.
Đây là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo việc kinh doanh có hiệu quả của các TCTD.Việc tuân thủ các nguyên tắc về vay vốn và điều kiện vay vốn sẽ giúp các TCTD tránh được các rủi ro trong quá trình kinh doanh ,bởi các TCTD có thể cho vay theo hình thức,cách,thời hạn khác nhau ,điều đó tùy thuộc vào nhu cầu và mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng với những đảm bảo cần thiết cho việc vay vốn.Do vậy,nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các TCTD.Rủi ro có thể từ phía người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi khi đến hạn thanh toán hay rủi ro xuất phát từ phía TCTD do cách tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh kém, không hiệu quả, kinh doanh không có lãi.Việc thực hiện đúng các nguyên tắc và điều kiện vay vốn sẽ đảm bảo hoạt động kinh doanh của TCTD ,cũng như vị trí và uy tín của TCTD đó trên thương trường.
2.2.2.Quy định về lãi suất
Pháp luật không có quy định cụ thể về mức lãi suất cho vay,mà mức lãi suất cho vay là do TCTD và khách hàng thỏa thuận phù hợp với các quy định của NHNN Việt Nam.Theo các quy định của các văn bản trước đấy thì mức lãi suất cũng theo sự thỏa thuận của TCTD với khách hàng,và mức lãi suất cũng sẽ phải“thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng Đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Tổ chức tín dụng xác định lãi suất cho vay bằng Đồng Việt Nam trên cơ sở cung cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng vay là các pháp nhân và cá nhân Việt Nam, pháp nhân và cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụng được lựa chọn theo Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ để làm tham khảo và định hướng lãi suất thị trường, phù hợp với quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; đồng thời chủ động áp dụng các biện pháp để kiểm soát biến động của lãi suất thị trường, đảm bảo được yêu cầu và mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.(Quyết định 546/2002/QĐ-NHNN).
Theo quy định trên thì NHNN chỉ đề ra mức lãi suất cơ bản chứ không đề ra một mức lãi suất cụ thể.Một mặt ,tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD trong việc xác định mức lãi suất phù hợp cho từng đối tượng khách hàng vay khác nhau.Tuy nhiên,nó cũng bộc lộ một vấn đề đó là liệu có dấn đến việc áp dụng mức lãi suất không công bằng giữa các đối tượng khách hàng có đủ những điều kiện như nhau ?Liệu có xảy ra trường hợp có sự” ưu ái “ của TCTD đối với đối tượng khách hàng đặc biệt “?Đây là một vấn đề cần xem xét.Có cần thiết đặt ra một giải pháp nào đó cho vấn đề này?
2.2.3.Quy định về giới hạn cho vay
Trong hoạt động cho vay ,các TCTDphải tuân thủ các quy định về giới hạn cho vay .Theo quy định tại điều 79 của Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung năm 2004 và khoản 1,2 điều 18 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN:tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân. Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng hay khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồn thì các tổ chức tín dụng cho vay hợp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. “Trong trường hợp đặc biệt, tổ chức tín dụng chỉ được cho vay vượt quá mức giới hạn cho vay quy định tại Khoản 1 Điều này khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép đối với từng trường hợp cụ thể”.
Hiện nay,trong xu thế hội nhập kinh tế - quốc tế, các doanh nghiệp trong nước cần đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh theo chiều rộng và chiều sâu, để giải quyết nhu cầu vốn đầu tư lớn này cho các doanh nghiệp đồng thời vẫn đảm bảo được giới hạn cho vay tối đa của ngân hàng đối với khách hàng, các ngân hàng đã tiến hành cho vay hợp vốn. Đối với các đối tượng hạn chế cho vay quy định tại Điều 20 Quyết định1627/2001/QĐ-NHNN, tổng dư nợ cho vay không được...
Tags: đề tài luật ngân hàng và tổ chức tín dụng, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng cho vay của tổ chức tín dụng, quy định vay bằng tài sản đảm bảo tổ chức tín dụng, tranh chấp HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG, giải pháphạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, pháp luật về cho vay tiêu dùng tại các tổ chức tín dụng, pháp luật về cho vay của các tổ chức tín dụng, pháp luật về hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, pháp luật về quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, quy định pháp luật về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng.