ghostwalk_on_sky_vn
New Member
Download miễn phí Vai trò của triết học đối với phát triển kinh tế
Mỗi hệ thống triết học đều nhằm trang bị cho chủ thể một cơ sở phương pháp
luận cho việc nhận thức và trên cơ sở đó, vận dụng các quy luật kinh tế.Chẳng
hạn, đối với triết học Mác -Lênin, trang bị phương pháp tư duy biện chứng duy
vật để giúp con người nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế một cách
khách quan, khoa học hơn. Nhờ phương pháp tư duy biện chứng duy vật mà
chúng ta hiểu được rằng, các quy luật kinh tế cũng giống như các quy luật khác,
chẳng hạn quy luật của tự nhiên là ở tính khách quan của chúng. Nghĩa là các
quy luật kinh tế tồn tại, vận động, phát triển một cách khách quan, tuân theo
những quy luật vốn có của nó, không phụ thuộc vào mong muốn chủ quan của
con người. Nhưng, khác với các quy luật tự nhiên, các quy luật kinh tế còn mang
tính xã hội.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-18-vai_tro_cua_triet_hoc_doi_voi_phat_trien_kinh_te.Ml95B5HbKg.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-55885/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
iới quan triết họcnhư thế nào sẽ quy định quan điểm kinh tế, chính trị, văn hoá, nghệ thuật, đạo
đức, v.v. như thế ấy. Do vậy, triết học khoa học, đúng đắn có vai trò hết sức to
lớn đối với sự phát triển của xã hội nói chung, của kinh tế nói riêng. Điều này thể
hiện ở một số điểm cơ bản sau:
1. Thế giới quan triết học khoa học - cơ sở lý luận cho tư duy đúng đắn về
kinh tế
Triết học có đối tượng nghiên cứu của mình là mối quan hệ của con người với tự
nhiên và quan hệ của con người với nhau trong xã hội, đặc biệt là quan hệ của
con người với con người trong sản xuất vật chất. Quan hệ của con người với tự
nhiên được biểu thị cô đọng nhất thông qua lực lượng sản xuất. Quan hệ của con
người với nhau trong xã hội được biểu thị cô đọng, cơ bản nhất thông qua quan
hệ sản xuất. Có thể nói, đây là hai mối quan hệ cơ bản nhất của con người. Do
vậy, để phát triển kinh tế thì phải có tư duy về kinh tế một cách đúng đắn. Tư
duy về kinh tế muốn đúng đắn phải dựa trên một thế giới quan triết học khoa
học. Chẳng hạn, triết học Mác - Lênin nghiên cứu xã hội với tư cách một chỉnh
thể thống nhất hữu cơ với "hạt nhân" của nó là kinh tế. Nhưng kinh tế được triết
học Mác - Lênin nghiên cứu dưới góc độ lịch sử - cụ thể, tức là dưới những
cách sản xuất lịch sử - cụ thể.(*)Như chúng ta đã rõ, cách sản
xuất lại là sự thống nhất hữu cơ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Trong đó, lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã
hội của nó. Như vậy, theo triết học Mác - Lênin, muốn phát triển một phương
thức sản xuất thì trước hết phải tập trung vào phát triển lực lượng sản xuất. Lực
lượng sản xuất, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là sự kết hợp hữu
cơ giữa người lao động với tư liệu sản xuất, mà trước hết là công cụ lao động để
tạo ra một sức sản xuất nhất định. Từ đây cho thấy, để phát triển kinh tế, trước
hết phải tập trung vào phát triển nhân tố người lao động và sau đó là công cụ lao
động. Nếu người lao động không được giải phóng, không có sức khoẻ, không có
trình độ học vấn, không có kinh nghiệm, kỹ năng lao động, v.v. thì dù công cụ
lao động có hiện đại chăng nữa, lực lượng sản xuất cũng không thể phát triển
được. Ngược lại, nếu người lao động có sức khoẻ, có trình độ, có tay nghề, có
kinh nghiệm, kỹ năng lao động, nhưng công cụ lao động thô sơ, lạc hậu thì lực
lượng sản xuất cũng không thể phát triển. Như vậy, kinh tế cũng không thể phát
triển. Do đó, muốn phát triển kinh tế phải có được những chính sách phù hợp để
giải phóng người lao động nhằm giải phóng sức sản xuất. Đồng thời, phải đào
tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm lao động
cho họ. Không những thế mà còn phải có được những chính sách "lên men" được
sự hăng say, tính tích cực, lòng nhiệt tình, sự cần cù, chịu khó, sự sáng tạo, dám
nghĩ, dám làm và biết phát huy có hiệu quả công cụ lao động hiện có của người
lao động. Nghĩa là phải tạo được sự kết hợp tối ưu giữa người lao động có tri
thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động với công cụ lao động. Chỉ có như vậy mới
có thể phát huy tối đa vai trò của lực lượng sản xuất trong phát triển kinh tế.
Đồng thời phải có chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ
hợp lý. Phát triển giáo dục - đào tạo là trực tiếp bồi dưỡng, phát triển nguồn lực
con người, là đào tạo người lao động, là trực tiếp góp phần phát triển lực lượng
sản xuất. Phát triển khoa học, công nghệ là trực tiếp góp phần phát triển công cụ
lao động, cải tiến, nâng cao, hoàn thiện và chuyển giao công nghệ sản xuất,v.v..
Phát triển khoa học - công nghệ còn góp phần phát triển tư liệu sản xuất, như tạo
ra các nguồn nguyên, nhiên, vật liệu mới, nhân tạo không có sẵn trong tự nhiên
cho sản xuất. Trên cơ sở đó góp phần làm cho tri thức khoa học ngày càng trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công
nghệ còn góp phần nâng cao hiệu quả, tính khoa học của quá trình quản lý sản
xuất; trên cơ sở đó, góp phần phát triển kinh tế. Đương nhiên, những điều này chỉ
mới là những điều kiện cần cho sự phát triển kinh tế. Để những điều này hậu
thuẫn tốt cho sự phát triển kinh tế trên thực tế còn đòi hỏi phải biết tổ chức, quản
lý sản xuất một cách hợp lý; giải quyết tốt mối quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản
xuất và quan hệ phân phối sản phẩm được sản xuất ra.
Rõ ràng là, triết học không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, nhưng triết học khoa
học, đúng đắn sẽ cung cấp cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học cho cho sự
phát triển tư duy về kinh tế một cách đúng đắn, khoa học; trên cơ sở đó góp phần
phát triển lực lượng sản xuất nói riêng, kinh tế nói chung. Đương nhiên, cơ sở lý
luận, phương pháp luận triết học đúng đắn còn phải được nhận thức đúng và vận
dụng vào thực tiễn phát triển kinh tế sáng tạo, phù hợp thực tiễn thì mới mang lại
hiệu quả thiết thực.
Thực tế lịch sử đã chứng minh những điều này. Chẳng hạn, chính cuộc "cách
mạng" trong quản lý kinh tế do các chủ nô dân chủ, tiến bộ khởi xướng ở Hy
Lạp, La Mã vào thế kỷ II, III, nhằm giải phóng người nô lệ với tư cách người sản
xuất chính trong xã hội khi ấy đã hậu thuẫn cho cách sản xuất phong
kiến ra đời. Bởi lẽ, sự đánh đập nô lệ một cách dã man, sự đối xử hà khắc với họ
chỉ như đối với công cụ lao động biết nói đã làm cho nô lệ đốt, phá hoại mùa
màng, công cụ sản xuất, bỏ trốn, v.v. dẫn tới sức sản xuất bị kìm hãm, kinh tế
không phát triển. Để giải phóng sức sản xuất, một số chủ nô dân chủ, tiến bộ đã
thay đổi tư duy về kinh tế, trước hết là thay đổi cách quản lý nô lệ, không đánh
đập mà "khoán" sản phẩm trên đơn vị đất canh tác. Do được "tự do" canh tác,
không bị giám sát, đánh đập nên người nô lệ đã “phấn khởi” làm việc. Hơn nữa,
nếu chăm chỉ làm việc, sản phẩm vượt mức khoán thì nô lệ được hưởng. Đây
chính là mầm mống của địa tô và đồng thời là chất “men” giải phóng sức sản
xuất, hậu thuẫn cho cách sản xuất phong kiến ra đời. Thời kỳ Phục hưng
ở châu Âu cũng cho thấy, không phải ngẫu nhiên mà chủ nghĩa nhân đạo lại ra
đời vào thời kỳ này. Đó là do nhu cầu giải phóng con người nhằm giải phóng sức
sản xuất đòi hỏi. Nếu con người không được tự do đi lại, tự do làm giầu, tự do
bán sức lao động, v.v. thì nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa không thể ra đời
và phát triển. Cũng không phải ngẫu nhiên mà thuyết Nhật tâm lại ra đời vào thời
kỳ này và sau Côpécníc, Brunô, Galilê lại xuất hiện Lêôna đơ Vanhxi - nhà cơ
học, kỹ thuật, có thể nói như vậy, đầu tiên của nhân loại. Chính sự ra đời của cơ
học đã hậu thuẫn cho sự p...