keo_que2007

New Member

Download miễn phí Luận văn Xoá đói giảm cùng kiệt ở tỉnh Hủa Phăn Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào





MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 6
1.1. Quan niệm về đói nghèo và các nhân tố ảnh hưởng tới đói nghèo 6
1.2. Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hủa Phăn nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào 19
1.3. Kinh nghiệm quốc tế và một số tỉnh ở Lào trong xóa đói giảm nghèo 23
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH HỦA PHĂN GIAI ĐOẠN TỪ 2001-2007 29
2.1. Vài nét về đặc điểm tự nhiên , kinh tế - xã hội của tỉnh Hủa Phăn ảnh hưởng đến đói nghèo 29
2.2. Tình hình đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hủa Phăn 35
2.3. Đánh giá chung về công tác xóa đói giảm nghèo 49
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẨY MẠNH
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH HỦA PHĂN THỜI GIAN TỚI 58
3.1. Phương hướng xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hủa Phăn 58
3.2. Những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hủa Phăn 64
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

i thiểu để duy trì cuộc sống; còn tất cả các nhu cầu thiết yếu khác, không được đáp ứng hay bị cắt giảm hầu hết. Vì lẽ đó, đối với người cùng kiệt phải sống trong cảnh cực khổ, cơm ăn không đủ no, không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu; chăn không ấm, áo không đủ mặc, sức khoẻ không đảm bảo, con cái thường bị suy dinh dưỡng, thất học, nhà cửa lụp xụp, dột nát, không có gì để tích luỹ, không có dự trữ nên không có tài sản gì có giá trị cao...
Vì thu nhập không đủ đảm bảo cho cuộc sống tối thiểu hàng ngày của gia đình nên họ phải thường vay mượn của cộng đồng, thậm chí phải vay với lãi suất cao. Nhiều vùng sản xuất lương thực nông dân phải bán “lúc non” theo kiểu “ăn trước trả sau” ngư dân thì phải vay của “đầu nậu” sau chuyến đi đánh bắt cá phải bán lại sản phẩm với giá rẻ cho họ. Vì vậy, đã làm cho người cùng kiệt luẩn quẩn trong vòng cùng kiệt khổ không có lối thoát. Đó là chưa nói tới những khó khăn đột xuất như thiên tai, mất mùa, tai nạn, ốm đau... Trước những khó khăn trong cuộc sống, đối với những người khác có thể vượt qua một cách dễ dàng, nhưng đối với người cùng kiệt lại càng làm cho họ khó khăn hơn. Mặc dù số hộ đói cùng kiệt còn lớn, song về cơ bản các hộ này vẫn còn tư liệu sản xuất như đất đai canh tác. Điều đó cho thấy người cùng kiệt đói ở đây không phải là người dân bị bần cùng hoá, bị tước đoạt tư liệu sản xuất, bị bóc lột như dưới chế độ cũ. Đây là điều kiện cực kỳ quan trọng để thực hiện có hiệu quả chính sách xoá đói giảm cùng kiệt với chính sách và sự hỗ trợ phát triển của Nhà nước và vốn, vật tư, kinh nghiệm kỹ thuật... người cùng kiệt và các hộ cùng kiệt đều có cơ hội thoát khỏi cảnh đói cùng kiệt bằng lao động của chính mình trong tình hình đổi mới, với chính sách đẩy mạnh phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện tượng đói cùng kiệt ở nông thôn ở Lào nói chung và ở Hủa Phăn nói riêng vẫn đang tiếp tục có sự biến đổi, khoảng cách giàu cùng kiệt ngày càng xa cách nhau.
Thực tế cho thấy việc xoá đói giảm cùng kiệt trong thời gian qua và sắp tới còn nhiều khó khăn phức tạp và cũng là một yêu cầu cấp thiết và trách nhiệm hết sức nặng nề của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân Hủa Phăn nói chung.
* Nguyên nhân đói cùng kiệt ở tỉnh Hủa Phăn:
Như chúng ta đã biết đói cùng kiệt không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân mà còn là nguyên nhân gây ra những vấn đề xã hội phức tạp. Đói cùng kiệt là trái với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, trái với mục tiêu của Đảng và dân tộc ta. Chính vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển phồn thịnh và bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc và của mỗi địa phương, chúng ta phải quan tâm giải quyết vấn đề đói nghèo. Để thực hiện điều đó đòi hỏi trước hết phải tìm ra nguyên nhân dẫn đến đói nghèo.
Thực trạng mức sống ở Hủa Phăn rất thấp so với tình hình chung cả nước, của khu vực cũng như so với nhu cầu sinh hoạt tối của con người hiện nay. Nếu phân tích các vùng tập trung người nghèo, tình hình còn khó khăn hơn. Kinh tế kém phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư còn thấp nên rất khó huy động và tập trung nguồn lực cho công tác xoá đói giảm nghèo.
Qua phân tích thực trạng đói cùng kiệt ở tỉnh Hủa Phăn có hai nhóm nguyên nhân chủ yếu như sau:
+ Về nguyên nhân chủ quan:
Nói đến nhóm nguyên nhân chủ quan chính là nói đến bản thân của con người cùng kiệt như thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm làm ăn, thiếu lao động, đông con, ốm đau, ăn tiêu lãng phí nghiện hút,... Đây là nguyên nhân cơ bản nhất có tính quyết định đến sự hình thành đói nghèo. Nhóm nguyên nhân chủ quan bao gồm các nguyên nhân sau:
- Thiếu vốn sản xuất: như chúng ta đã biết vốn là một điều kiện vô cùng quan trọng để đầu tư sản xuất tạo thu nhập. Nếu không có vốn hay thiếu vốn thì không thể tiến hành sản xuất, hay có sản xuất thì kết quả và hiệu quả không cao. Vì lẽ có một số người cùng kiệt khi cần vốn phải vay tư nhân với lãi suất cao (20-25%/tháng). Có tình trạng nhiều nông dân phải bán nông sản “non” cho tư thương. Sở dĩ có tình trạng đó, vì họ cho rằng vay ngân hàng thì phải làm thủ tục rườm rà, vả lại vay tư nhân thì kịp thời, đảm bảo tính thời vụ. Hậu của việc vay nặng lãi này đã làm cho họ không thoát được vòng luẩn quẩn của sự cùng kiệt đói. Một số khác nhất là vùng dân tộc không có vốn đầu tư, nhưng do tâm lý sợ mặc nợ nên không dám vay mà chỉ cam chịu theo kiểu “có gì làm nấy” và họ đã phải chấp nhận hiệu quả sản xuất thấp.
- Thiếu đất và công cụ để sản xuất: cũng như cả nước, hầu hết nông dân Hủa Phăn số hộ có ruộng và có công cụ để sản xuất hàng năm chỉ chiếm 60%, còn 40% đi phá rừng trồng lúa nương với tăng năng suất thấp, thiếu ăn. Trong số hộ có ruộng làm bình quân trên 1-2ha/hộ trong đó chủ yếu chỉ sản xuất lúa mùa, năng suất thấp. Thiếu nước vì nhờ nước mưa, mùa khô chỉ sản xuất được 20% của diện tích lúa mùa, do thuỷ lợi chưa đáp ứng được yêu cầu tưới nước, nhiều hộ túng thiếu, nợ nần phải cầm hay bán đất và lại phải đi làm thuê.
- Thiếu kiến thức và kinh nghiệm làm ăn: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hộ gia đình đã trở thành đơn vị tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Nhờ đó nhiều hộ đã vươn lên làm giàu bằng chính sức lực và trí trí tuệ của mình. Bên cạnh đó không ít hộ đã bộc lộ nhược điểm do thiếu kiến thức và kinh nghiệm sản xuất. Đó chính là nguyên nhân khiến cho những hộ cùng kiệt hay sản xuất kinh doanh không hiệu quả. Thực tế đã chứng minh nhiều gia đình không có vốn nhưng không chịu chạy vạy vì không biết để làm gì. hay khi đã có vốn thì cũng không biết sản xuất, kinh doanh như thế nào cho hiệu quả.
Qua điều tra, cho thấy gần 2/3 hộ đói cùng kiệt cho rằng thiếu kinh nghiệm làm ăn là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo. Nhất là đối với những hộ nông dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, nguyên nhân này biểu hiện khá phổ biến. Có lẽ đây là nguyên nhân chủ yếu nhất dẫn đến đói nghèo. Khi người lao động có kiến thức và kinh nghiệm làm ăn thì bằng nhiều cách họ sẽ huy động được các yếu tố sản xuất và khai thác có hiệu quả các nguồn lực đó. Họ sẽ tạo được công ăn việc làm, chứ không bao giờ bó tay, chấp nhận cùng kiệt đói, nếu có chỉ là cá biệt trong hoàn cảnh bất khả kháng.
- Do đông con thiếu lao động: Đây là nguyên nhân cùng kiệt đói của những gia đình đông con, số con còn nhỏ nhiều nên luôn ở trong trạng thái “người làm thì ít, người ăn thì nhiều”. Do thiếu lao động hay ít lao động, nguồn thu nhập không đáp ứng những nhu cầu hàng ngày của số đông người trong gia đình. Bên cạnh đó nhiều gia đình có lao động nam, lao động trẻ khoẻ... không thích đi làm, để lao động nữ hay người quá tuổi lao động, mà vẫn phải tiếp tục lao động để kiếm sống, tất yếu thu nhập và dễ dẫn đến đói nghèo.
Hầu hết ...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top