Garwig

New Member

Download miễn phí Bài giảng Quần thể sinh vật





Tuổi thọsinh lý (hay lý thuyết) là tuổi thọmà các cá thểcó thể đạt
được trong điều kiện các yếu tốmôi trường không trởthành yếu tốgiới
hạn. Tuổi thọsinh lý mang đặc tính của loài. Những loài có kích thước
quá nhỏ, tuổi thọrất thấp và có thểtính theo giờ; ngày, còn những loài
động vật có kích thước lớn, tuổi thọdài hơn và tính theo năm, chục năm,
trăm năm. Việc xác định tuổi thọsinh lý các loài không đơn giản. Người
ta cũng sửdụng nhiều phương pháp đểdự đoán tuổi thọsinh lý của con
người. Nhiều dựbáo cho rằng tuổi thọlý thuyết của người vào khoảng
125-175 năm



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Cấu trúc giới tính và cấu trúc sinh sản
Sự phân chia giới tính là hình thức cao trong sinh sản của sinh giới.
Nhờ đó trong sinh sản có sự trao đổi chéo và kết hợp gen giữa các cá thể,
tạo nên thế hệ con cái có sức sống cao hơn.
Cấu trúc giới tính là cơ cấu quan trọng của quần thể, mang đặc tính
thích ứng đảm bảo hiệu quả sinh sản của quần thể trong những điều kiện
thay đổi của môi trường.
Trong thiên nhiên, tỷ lệ chung giữa con đực và con cái là 1:1, song
tỷ lệ này biến đổi khác nhau ở từng loài và khác nhau ở các giai đoạn khác
nhau trong đời sống ngay trong một loài, đồng thời còn chịu sự chi phối
của các yếu tố môi trường (tập tính sống).
- Cấu trúc giới tính bậc I (giống bậc I): là tỉ lệ giữa số lượng cá thể
đực và cái của trứng đã thụ tinh. Tỉ lệ này xấp xỉ 1:1 ở đa số các loài động
vật.
58
- Cấu trúc giới tính bậc II (giống bậc II): là tỉ lệ đực/cái ở giai đoạn
trứng nở hay con non mới sinh. Tỉ lệ này xấp xỉ 1:1 ở đa số các loài động
vật.
- Cấu trúc giới tính bậc III (giống bậc III): là tỉ lệ đực/cái ở giai
đoạn cá thể trưởng thành.
Cấu trúc giới tính bậc III khác nhau ở các loài khác nhau, đặc biệt
quan trọng và có liên quan với tập tính sinh dục và tiềm năng sinh sản ở
các loài. ở ngỗng, vịt, gà gô Mỹ (Tinamidae), cun cút (Turnicidae), thỏ
(Salvilagus) có cấu trúc giới tính bậc III là 60 đực/40 cái. Những loài đa
thê (ở nhiều loài như gà, vịt, hươu, nai...) có số lượng cá thể cái nhiều hơn
cá thể đực gấp 2-3 lần, thậm chí đến 10 lần. Cấu trúc giới tính bậc III
không ổn định mà thay đổi tuỳ tập tính sinh dục và sinh sản của từng loài
chẳng hạn như ở thằn lằn, rắn độc, bò cạp...sau mùa sinh dục (giao phối)
số lượng cá thể đực giảm xuống, sau đó lại xấp xỉ bằng nhau. Điều này
phụ thuộc vào tỷ lệ tử vong không đồng đều giữa cá thể cái và đực. Ngoài
ra, tỉ lệ đực cái của quần thể còn thay đổi tuỳ theo điều kiện môi trường, ví
dụ như kiến nâu rừng (Formica rufa) đẻ trứng ở nhiệt độ thấp hơn 200C
thì trứng nở ra hoàn toàn cá thể cái, nhưng ở những nơi có nhiệt độ cao
hơn 200C thì trứng nở ra hoàn toàn cá thể đực.
Khi nghiên cứu về giới tính và sự sinh sản của sinh vật, người ta
nhận thấy nhịp điệu tái sản xuất của quần thể tăng lên khi tăng số lượng
các cá thể cái, song trong điều kiện đó sức sống của thế hệ con non giảm.
Bởi vậy trong điều kiện môi trường thuận lợi, nhiều loài động vật tỷ lệ cá
thể cái thường cao, thậm chí có trường hợp trong quần thể chỉ toàn những
cá thể cái. Chẳng hạn, trong quần thể giáp xác bậc thấp: giáp xác râu
ngành (Cladocera) và trùng bánh xe (Rotatoria) vào mùa hè không có các
cá thể đực. Những quần thể này sinh sản theo kiểu đơn tính như trinh sinh
(Parthenogenese).
Ở nhiều loài động vật sinh sản lưỡng tính, nhất là động vật thuỷ
sinh, có sự biến đổi luân phiên đều đặn giữa các pha đực và pha cái thì cấu
trúc giới tính phụ thuộc vào tuổi của cá thể, ví dụ loài tôm Pandalus
borealis tham gia vào đàn đẻ trứng ở pha đầu thường là con đực với tuổi
2,5 năm, sau đó chuyển giới tính vào mùa sinh sản tiếp theo. Loài tôm
Solenocera membranaela có tuổi thọ 3 năm, nhưng 2 năm cuối đời hoạt
động như cá thể cái do vậy trong quần thể số lượng con đực ở dạng trưởng
thành rất ít.
Tỷ lệ giữa cá thể đực và cái trong quần thể phụ thuộc trước hết vào
đặc điểm di truyền của loài, ngoài ra còn chịu sự kiểm soát của điều kiện
môi trường như nhiệt độ, độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng. Ví dụ
trong điều kiện thí nghiệm với giáp xác bơi nghiêng (Gammarus duebeni)
59
với thời gian được chiếu sáng dài 16 giờ, số lượng cá thể đực nhiều gấp 3-
12 lần cá thể cái. Quần thể Gammarus salinus khi nuôi ở điều kiện nhiệt
độ 50C, số con đực trong quần thể nhiều gấp 5 lần số con cái, nhưng nếu ở
nhiệt độ 230C thì số cá thể cái nhiều gấp 13 lần số cá thể đực.
Tỷ lệ giới tính của quần thể còn biến đổi khác nhau trong những
giai đoạn khác nhau của đời sống, nhất là ở các giai đoạn trước sinh sản,
đang sinh sản và sau sinh sản.
Cấu trúc sinh sản là trường hợp cụ thể biểu hiện tỷ lệ giới tính
trong quá trình sinh sản. Cấu trúc sinh sản trước hết được xác định bởi cấu
trúc giới tính chung mang tính chất của loài và cấu trúc giới tính của giai
đoạn trước sinh sản, đang sinh sản và sau sinh sản bởi vì độ dài của từng
giai đoạn không đồng nhất ở những loài khác nhau của động vật và thực
vật. Cấu trúc này còn phụ thuộc vào cách tham gia sinh sản của các cá thể
trong quần thể như kiểu “1 vợ 1 chồng”, kiểu “đa thê”, “đa phu”...Nhiều
loài chim sống thành đôi (chim cánh cụt, yến, bồ câu...), nhiều loài thú
như voi biển, hải cẩu sống kiểu gia đình (1 con đực, vài ba con cái và đàn
con), trong khi đó loài cá hồi Oncorhynchus gorbuscha trong họ cá hồi
(Salmonidae) một con cái thường tham gia đẻ trứng với nhiều con đực
(đến 10 con). Ở loài cá Crenilabrus ocellatus một con cái tham gia đẻ
trứng với 2 nhóm cá đực, nhóm cá đực lớn lấy tảo Cladophora làm tổ cho
cá cái, khi cá cái đẻ trứng nhóm cá đực lớn và nhỏ đều tham gia thụ tinh,
nhưng sau đó nhóm cá đực lớn đuổi nhóm cá đực nhỏ ra khỏi tổ và làm
nhiệm vụ bảo vệ tổ (Nikolski, 1974).
5. Sự phân dị của các cá thể trong quần thể.
Sự phân dị của các cá thể trong quần thể chính là sự khác biệt về
chất của các cá thể, về các đặc điểm hình thái và sinh lý. Đó là một trong
những thích nghi quan trọng trong việc sử dụng hiệu quả nguồn sống tiềm
tàng của môi trường. Đa dạng không chỉ được thể hiện bằng số lượng loài,
nơi sống, các hệ sinh thái, trong đó các loài là những thành viên, mà còn
được thể hiện bằng sự biến đổi ngay trong nội bộ vủa loài, bao gồm những
biến đổi về gen (Mc Neely & al., 1991).
Sự xuất hiện các quần thể, các nhóm lãnh thổ, nhóm sinh lý, sinh
thái... của loài làm giàu các mối quan hệ của loài với môi trường, đồng
thời nâng cao khả năng trong việc khai thác và sử dụng môi trường. Tính
phân dị của các cá thể trong quần thể được tạo ra bởi cấu trúc như cấu trúc
về tuổi, giới tính và sinh sản, trạng thái mùa và nhiều dấu hiệu khác. Ngay
trong giới hạn một dạng nào đó (tuổi, giới tính...), các cá thể của quần thể
ở mỗi thời điểm cũng không giống nhau và mức độ biến đổi của chúng
theo từng dấu hiệu mang đặc tính thích nghi, do đó chúng dễ dàng tồn tại
và phát triển. Ví dụ trong quần thể cá Coregonus lavaretus tần suất xuất
60
hiện những cá thể có que mang dài, ngắn rất khác nhau, hay như trong
quần thể vẹt, cá thể đực có mỏ lớn và khoẻ hơn so với những con cái...liên
quan đến việc khai thác các loại thức ăn khác nhau.
Nhờ những biến dị phong phú của các cá thể mà tính ổn định
chung của quần thể được nâng cao và sự toàn vẹn của quần thể, của loài
được duy trì trong điều kiện môi trường biến động, nhất là khi sinh vật
sống trong các vùn...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top