Download miễn phí Đề tài Một số giải pháp tăng cường xã hội hoá xoá đói giảm cùng kiệt giai đoạn 2001 - 2005 ở Việt Nam
Để tạo được phong trào toàn dân tham gia chương trình XĐGN, công tác tuyên truyền vận động đã được hết sức chú trọng, bằng nhiều hình thức như: thông qua hội họp, hội thảo, các phương tiện thông tin đại chúng: đài, báo, truyền hình, Internet,. nhằm kịp thời phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng Nhà nước về công tác XĐGN, đưa tin, bài về triển khai công tác XĐGN ở các địa phương, kịp thời phổ biến, giới thiệu kinh nghiệm hay, điển hình tốt về công tác XĐGN .v.v.
Qua khảo sát công tác tuyên truyền thông tin báo chí về XĐGN năm 1999 (thời gian từ tháng 1 đến tháng 5) (Xem biểu 8, 9 và hình 4 cho thấy:
- Khối lượng bài đăng tải trên báo chí về công tác XĐGN là khá lớn chủ yếu là tập trung ở một số báo như: Nhân dân, Lao động, Thời báo kinh tế,.v.v. Tập trung vào hầu hết các lĩnh vực công việc, các khía cạnh khác nhau của công tác XĐGN.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-03-23-de_tai_mot_so_giai_phap_tang_cuong_xa_hoi_hoa_xoa.36Y7QOobfp.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-64723/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
ểu học ở khu vực nông thôn đã tăng từ 85% lên đến 91%. Còn ở thành thị tỷ lệ đi học đúng tuổi ở cấp tiểu học hầu như không đổi ở mức rất cao (96%). Khả năng được sử dụng nước sạch và phương tiện cho vệ sinh ở cả thành thị và nông thôn đều đã được cải thiện. Dân nông thôn giờ đây ít phải lệ thuộc vào nước sông, hồ và ngày càng nhiều người dân lấy nước uống từ giếng khoan. ở các vùng thành thị, hơn một nửa số dân đã được dùng nước máy. Trên 90% dân thành phố và gần 60% dân nông thôn đã có điện để thắp sáng.Như vậy nỗ lực xoá đói giảm cùng kiệt trong tương lai phải giành chủ yếu cho nông thôn, ở thành thị thì giành cho đối tượng mới nhập cư.
1.3. Một số vùng, khu vực, đặc biệt vùng đồng bào dân tộc tỷ lệ đói cùng kiệt khá cao (trên 20%). Tuy nhiên cùng kiệt đói đã giảm trong cả 7 vùng của Việt Nam nhưng với mức độ khác nhau (xem biểu 2).
Miền núi phía Bắc giảm từ 35,53% (1992) - 16,93% (1999) - 15% (2000)
Miền Đồng bằng sông Hồng giảm từ 20,6% (1992) - 7,2% (1999).
Bắc Trung Bộ giảm từ 44,04% (1992) - 20,5% (1999) - 24,62% (2000).
Đông Nam Bộ giảm từ 20% (1992) - 8,95% (1999).
Ba vùng có tỷ lệ dân cùng kiệt cao nhất là: Miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, Tây Nguyên, thể hiện:
Biểu 4: Tỷ lệ hộ đói cùng kiệt qua các năm của 3 vùng cùng kiệt nhất.
(Đơn vị: %)
Miền Năm
1995
1996
1997
1998
1999
2000
Miền núi phía Bắc
28,16
27,24
25,42
22,36
16,93
15,00
Bắc Trung Bộ
32,5
30,08
27,84
24,62
20,25
17,00
Tây Nguyên
30,88
29,95
27,84
25,65
19,57
13,00
Cả nước
20,37
19,23
17,70
15,66
13,10
11
Nguồn: Số liệu hệ thống an sinh xã hội Việt Nam- Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội.
Ước tính tỷ lệ hộ đói cùng kiệt ở các vùng vào cuối năm 2000 theo chuẩn mực mới của Bộ LĐTBXH (năm 2000) như sau:
( Đơn vị: Ngàn hộ)
Vùng
Số hộ nghèo
Tỷ lệ hộ cùng kiệt (%)
1. Miền núi phía Bắc
923,3
34,1
2. Đồng bằng sông Hồng
482,1
14,0
3. Bắc trung Bộ
833,8
38,6
4. Duyên hải miền Trung
555,7
31,9
5. Tây nguyên
257,5
36,1
6. Đông nam Bộ
261,4
12,8
7. Đồng bằng Cửu Long
686,2
20,3
Cả nước:
4.000,0
24,7
Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Như vậy cùng kiệt đói cao nhất là Bắc Trung bộ. Còn tại hai khu vực miền núi phía Bắc và Tây nguyên, cùng kiệt đói kéo dài là một triệu chứng biểu hiện nhiều hạn chế mà các khu vực này gặp phải khi tham gia vào quá trình tăng trưởng. Những hạn chế đó bao gồm môi trường vật chất khó khăn và điều này làm hạn chế sự phát triển của nông nghiệp cũng như cản trở khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng.
1.4. Sự phân cực giàu cùng kiệt ngày càng tăng.
Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê, nếu so sánh 20% nhóm hộ có thu nhập cao nhất (nhóm V) với 20% nhóm hộ có thu nhập thấp nhất ở vùng nông thôn (nhóm I) chênh nhau 7,3 lần (năm 1996) tăng lên 11,23 lần (năm 1999). Hệ số chênh lệch mức sống giữa dân cư thành thị và nông thôn hiện nay khoảng 5-7 lần.
Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, trong giai đoạn 1993-1998, kết cấu tăng trưởng chi tiêu đã dẫn đến sự bất bình đẳng tăng lên ở Việt Nam. Hệ số Gini về chi tiêu bình quân đầu người đã tăng từ 0,33 lên 0,35. Đường cong Lorenz đã dịch chuyển một chút theo thời gian từ 1993 đến 1998 cho thấy sự bất bình đẳng có tăng lên một chút (Hình 3).
Hình 3: Đường cong Lorenz của Việt Nam.
100
100
80
80
60
60
40
40
20
20
0,35
0,33
0
0
Nguồn: Ước tính của Ngân hàng Thế giới dựa vào số liệu VLSS 93 và VLSS 98.
1.5. Các chỉ tiêu về cải thiện đời sống còn thấp so với mục tiêu đề ra, đặc biệt chỉ tiêu về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Theo Số liệu hệ thống an sinh Việt Nam của Bộ LĐTBXH ,Năm 1999, số trẻ suy dinh dưỡng vẫn còn 36,68%, phần lớn là thuộc các gia đình nghèo; tỷ lệ phát triển dân số ở nhóm người cùng kiệt rất cao (trên mức trung bình 1,5% của cả nước); tỷ lệ người biết chữ ở các vùng sâu chỉ khoảng 50%; ở nông thôn chỉ khoảng 43% số hộ gia đình được dùng nước sạch và 20% có hố xí hợp vệ sinh...
Ngày càng nhiều người cùng kiệt được khám chữa bệnh miễn phí, được cấp thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT). Năm 1997, số người cùng kiệt được khám chữa bệnh miễn phí (KCBMP) là: 1.065.840 (người được cấp thẻ Khám chữa bệnh) và 126.764 (người được cấp thẻ BHYT).Số thẻ BHYT và thẻ KCBMP cấp năm 1998 là 2.987.945 thẻ.
Học sinh cùng kiệt đi học được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp cũng tăng lên.Năm 1998 là 682.999 học sinh với kinh phí 95.176,92 (triệu đồng) (Chi tiết xem biểu 5, 6, 7).
Biểu 5: Số người cùng kiệt được khám chữa bệnh miễn phí 1997.
Đơn vị: người.
Vùng
Thẻ KCB
Thẻ BHYT
1. Miền núi phía Bắc
5.000
2. Đồng bằng sông Hồng
216.395
110.160
3. Bắc Trung Bộ
340.192
-
4. Duyên Hải miền Trung
244.932
16.604
5. Tây Nguyên
46.286
-
6. Đông Nam Bộ
142.993
-
7. Đồng bằng Cửu Long
70.042
-
Cả nước:
1.065.840
126.764
Biểu 6: Hỗ trợ người cùng kiệt trong khám chữa bệnh năm 1998
và Hình thức hỗ trợ.
Vùng
Số thẻ BHYT & thẻ KCBMP
Số người cùng kiệt đã điều trị
Kinh phí (tr.đ)
1. Miền núi phía Bắc
242.264
82.309
4.102
2. Đồng bằng sông Hồng
382.299
190.527
7.282
3. Bắc Trung Bộ
1.006.363
99.315
5.478
4. Duyên hải miền Trung
107.301
30.030
2.358
5. Tây Nguyên
415.238
137.964
4.186
6. Đông Nam Bộ
359.370
62.192
7.745
7. Đồng bằng Cửu Long
475.110
159.977
8.862
Cả nước:
2.987.945
762.314
40.013
Biểu 7: Miễn giảm học phí và các khoản đóng góp đối với học sinh cùng kiệt 1998.
Vùng
Tổng số
Kinh phí (tr.đ)
1. Miền núi phía Bắc
61.300
6.622
2. Đồng bằng sông Hồng
51.709
2.323
3. Bắc Trung Bộ
254.731
-
4. Duyên hải Miền trung
40.767
80.845
5. Tây Nguyên
38.000
3.790
6. Đông Nam Bộ
55.802
-
7. Đồng bằng sông Cửu Long
180.690
1.598,92
Cả nước:
682.999
95.176,92
Nguồn: Số liệu hệ thống an sinh xã hội Việt Nam- Bộ Lao động- Thương
binh và Xã hội.
Tuy nhiên, thực tế đói cùng kiệt đòi hỏi ở mức độ nhiều hơn với 11 triệu người cùng kiệt đói nhưng chúng ta chưa đủ kinh phí để giải quyết tức thời tình trạng đó.
1.6. Tái cùng kiệt đói còn cao (7%).
Hàng năm số người phải cứu trợ đột suất do thiên tai, mất mùa khoảng từ 1-1,5 triệu người. Năm 1999 có khoảng hơn 1,5 triệu người thiếu đói phải cứu trợ đột suất (nhất là do bão lụt ở miền Trung). 6 tháng đầu năm 2000, theo báo cáo của 11 tỉnh, tổng số người thiếu đói lên tới 1,021 triệu người, chủ yếu ở các tỉnh miền Trung. Bình quân hàng năm có khoảng 7% số hộ tái đói cùng kiệt trong tổng số hộ vừa thoát khỏi đói nghèo. Riêng năm 1999 có 415 ngàn hộ vượt qua ngưỡng cùng kiệt đói thì có 75 ngàn hộ tái cùng kiệt đói.
Như vậy, có thể coi 6 nét trên đây là những nét chính của bức tranh đói cùng kiệt của Việt Nam hiện nay, một bức tranh sáng sủa hứa hẹn nhiều nét đột phá trong tương lai tuy nhiên không ít những nét chưa được coi là sáng sủa đó chính là những thách thức đối với Việt Nam trong công cuộc xoá đói giảm nghèo.
2. Nguyên nhân đói nghèo:
Đói cùng kiệt là hậu quả của nhiều nguyên nhân: ở Việt Nam, những nguyên nhân chính gây ra đói cùng kiệt có 3 nhóm:
2.1. Nhóm nguyên nhân thứ nhất do chính bản thân đối tượng (người nghèo, hộ nghèo) gồm các nguyên nhân cụ thể sau:
- Do đông con, đông cháu (người làm thì ít, người ăn thì nhiều);
- Do thiếu các điều kiện cơ bản của...