babyvip_kute9x
New Member
Download miễn phí Đề tài Quy luật giá trị và vai trò của nó trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam
MỤC LỤC.
STT Nội dung Trang
Phần mở đầu 1
Chương1: Quy luật giá trị và các vấn đề có liên quan. 2
1.1. Quy luật giá trị 2
1.1.1. Khái niệm giá trị hàng hoá 2
1.1.2. Quy luật giá trị- Quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và
Trao đổi hàng hoá 2
1.1.3. Mối quan hệ giữa giá cả sản xuất, giá cả thị trường, giá cả
độc quyền với giá trị hàng hoá 2
1.1.4. Các quy luật có liên quan và mối quan hệ của chúng với
quy luật giá trị 4
1.2. Vai trò của quy luật giá trị 7
Chương 2: Vai trò của quy luật giá trị đối với sự phát triển kinh tế thị
Trường ở Việt Nam. 9
2.1. Khái niệm và đặc trưng của kinh tế thị trường 9
2.2.1. Quá trình lưu thông vật chất được thực hiện chủ yếu bằng
cách mua bán 9
2.2.2. Người trao đổi hàng hoá phải có quyền tự do nhất định khi
tham gia trao đổi trên thương trường 10
2.1.3. Hoạt động mua bán phải được thực hiện thường xuyên, ổn
định trên cở sở một kết cấu hạ tầng tối thiểu, đủ để việc mua
bán diễn ra thuận lợi, an toàn. 11
2.1.4. Nền kinh tế thị trường hiện đại bao gồm những doanh nhân
biết thống nhất mục tiêu kinh tế với các mục tiêu chính trị-
xã hội- nhân văn 11
2.1.5 Có sự quản lý của nhà nước 11
2.2. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa về
bản chất và cấu trúc của nó. 11
2.3. Vai trò của quy luật giá trị trong sự phát triển kinh tế thị
trường ở nước ta. 14
Phần kết luận 21
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-04-01-de_tai_quy_luat_gia_tri_va_vai_tro_cua_no_trong_ph.htptL5O8Ec.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-66738/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
xác nhất vì sao giữa giá trị và giá cả thị trường lại không ăn khớp với nhau, tạo điều kiện cho quy luật giá trị có cơ chế hoạt động. Tuy cung cầu không trực tiếp quyết định sự hình thành giá trị hàng hoá, nhưng nó cũng ảnh hưởng gián tiếp đến chu kỳ sản xuất sau đối với việc hình thành giá trị hàng hóa, thông qua tác động của thị trường làm thay đổi điều kiện sản xuất và thay đổi năng suất lao động, giúp các giám đốc có những quyết định năng động, linh hoạt trong sản xuất, kinh doanh và trong ký kết các hợp đồng kinh tếc/ Quy luật cạnh tranh
- Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau, giữa người sản xuất với người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ, nhằm giành được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Những người sản xuất, tiêu thụ có điều kiện khác nhau về trình độ trang bị kỹ thuật, chuyên môn, không gian, môi trường sản xuất, điều kiện nguyên vật liệu v.v. nên chi phí lao động cá biệt khác nhau. Kết quả có người lãi nhiều, người lãi ít, người phá sản. Để giành lấy các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc họ phải cạnh tranh. Cạnh tranh có hai loại: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh lành mạnh là dùng tài năng của mình về kinh tế và quản lý để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, vừa có lợi cho nhà kinh doanh, vừa có lợi cho xã hội. Cạnh tranh không lành mạnh là dùng những thủ đoạn phi đạo đức, vi phạm pháp luật (trốn thuế, nâng giá…) có hại cho xã hội và người tiêu dùng.
- Quy luật cạnh tranh có tác dụng đào thải cái lạc hậu, bình tuyển cái tiến bộ để thúc đẩy xã hội phát triển.
Tóm lại: Nghiên cứu các quy luật giá trị, lưu thông tiền tệ và cung cầu không chỉ để nhận thức lực lượng khách quan chi phối cơ chế thị trường, mà còn có ý nghĩa đối với việc thực hiện chức năng quản lý ở hai tầng quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước và quản lý kinh tế vi mô của các doanh nghiệp.
Có thể khái quát mối quan hệ giữa các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường qua sơ đồ sau:
Quy luật giá trị
Quy luật cung cầu
Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật cạnh tranh
Từ sơ đồ trên cho thấy không thể làm chủ kinh tế thị trường và cơ chế vận hành của nó nếu không nắm bắt và vận dụng một cách tổng hợp các quy luật kinh tế nói trên trong kinh tế và quản lý kinh tế. Cũng từ sơ đồ trên cho thấy các quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu chỉ là những quy luật kinh tế phái sinh từ quy luật giá trị. Nó có tác dụng bổ sung và thông qua bổ sung tạo ra vẻ đẹp cho sự hoạt động hay tạo ra cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. Từ đó cần phê phán những quan điểm không đúng khi họ cường điệu quá đáng, thậm chí thừa nhận quy luật cung cầu mà không thừa nhận quy luật giá trị với tư cách là quy luật kinh tế căn bản của sản suất và trao đổi hàng hoá đã được các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển và Các Mác phát hiện và hoàn thiện quy luật này.
2.1 Vai trò của quy luật giá trị.
Trong nền kinh tế hàng hoá, quy luật giá trị có những vai trò sau:
a/ Điều tiết sản suất và lưu thông hàng hoá.
Trong nền kinh tế hàng hoá thường xảy ra tình hình: Người sản xuất bỏ ngành này đổ xô vào ngành khác, quy mô sản xuất của ngành nàyđược thu hẹp, trong khi ở ngành khác lại được mở rộng, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động được phân bố lại giữa các ngành. Hiện tượng này được gọi là sự điều tiết sản xuất. Sự điều tiết này được hình thành một cách tự phát, thông qua sự biến động của giá cả trên thị trường. Có thể hiểu vai trò điều tiết này thông qua những trường hợp biến động quan hệ cung cầu xảy ra trên thị trường:
- Khi cung nhỏ hơn cầu, sản phẩm không đủ để thoả mãn nhu cầu xã hội, giá cả cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy với lãi cao, người sản xuất mở rộng quy mô sản xuất, những người trước đây sản xuất hàng hoá khác, nay chuyển sang sản xuất hàng hoá này. Như vậy, tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển và ngành này nhiều hơn vào các ngành khác.
- Khi cung lớn hơn cầu, sản phẩm làm ra quá nhiều so với nhu cầu xã hội, giá cả thấp hơn giá trị, hàng hoá bán không chạy, có thể lỗ vốn, tình hình đó buộc người sản xuất ở ngành này thu hẹp quy mô sản xuất hay chuyển sang ngành khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động giảm đi ở ngành này mà tăng ở ngành khác mà họ thấy có lợi hơn.
Như vậy là theo “mệnh lệnh” của giá cả thị trường lúc lên, lúc xuống xoay quanh giá trị, khiến cho ngành sản xuất khác có lợi hơn ngành sản xuất này, mà có sự di chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành này sang ngành khác, quy mô sản xuất của ngành khác được mở rộng nhanh hơn ngành này. Điều đó làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động bỏ vào từng ngành trong từng lúc có xu hướng phù hợp với yêu cầu của xã hội. Đó là biểu hiện vai trò điều tiết của quy luật giá trị, tạo nên những tỷ lệ cân đối nhất định giữa các ngành sản xuất. Nhưng vì sản xuất trong điều kiện chế độ tư hữu cạnh tranh vô chính phủ nên những tỷ lệ hình thành một cách tự phát đó thường xuyên bị phá vỡ và gây ra những lãng phí về của cải xã hội. Vì vậy, cân đối đó chỉ là hiện tượng tạm thời.
Quy luật giá trị không chỉ điều tiết sản xuất hàng hoá, mà còn điều tiết cả lưu thông hàng hoá. Gía cả của hàng hoá hình thành một cách tự phát theo quan hệ cung cầu. Cung và cầu có ảnh hưởng lớn đến giá cả, nhưng giá cả cũng có tác dụng khơi thêm luồng hàng, thu hút luồng hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cao .Vì thế lưu thông hàng hoá cũng do quy luật giá trị điều tiết thông qua sự lên xuống của giá cả xoay chung quanh giá trị .
Chương 2:Vai trò của quy luật giá trị đối với sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
2.1 Khái niệm và đặc trưng của kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là nền kinh tế có các đặc trưng sau đây:
2.1.1Qúa trình lưu thông vật chấtđược thực hiẹn chủ yếu bằng cách mua bán với phạm vi ngày càng mở rộng , từ quốc gia tới khu vực và quốc tế.
a/ Lưu thông vật chất trong kinh tế là sự chuyển dịch kết quả sản xuất từ khâu này đến khâu khác của quá trình tái sản xuất mở rộng của xã hội . Sự lưu thông vật chất này bao gồm :
- Sự lưu thông vật chất từ khâu này đến khâu khác trong hệ thống các khâu của quá trình sản xuất . Chẳng hạn bông được chuyển từ các trang trại trồng bông tới nhà máy sợi, sơị được chuyển tới nhà máy dệt .
- Sự lưu thông vật chất từ sản xuất tới tiêu dùng. Chẳng hạn quần áo được chuyển từ các công ty may đến người mặc ; bánh mỳ được chuyển từ các lò bánh mỳ đến người ăn .
Sở dĩ có sự luân chuyển vật chất trong nền kinh tế quốc dân là do có sự phân công chuyên môn hoá nhằm tạo được năng suất lao động xã hội cao. Do chuyên môn hoá , mỗi khâu sản xuất chỉ thực hiện thực hiện một phần của quá trình sản xuất . Kết quả tạo ra ở mỗi ...