songhong0801
New Member
Download miễn phí Sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi
Rỉ mật được sử dụng trong chăn nuôi để cải thiện tính ngon miệng, bổ
sung một số chất khoáng. Rỉ mật còn được sử dụng như một thức ăn bổ sung
năng lượng cho khẩu phần thức ăn thô chất lượng kém. Với một hàm lượng
đường dễ lên men cao, rỉ mật như là một nguồn năng lượng rẻ tiền để sử
dụng với các loại nitơ phi protein. Các loại khoáng cần được cân đối lại bởi
vì trong rỉ mật chứa ít phospho và natri và không đủ lượng lưu huỳnh cho vi
sinh vật dạ cỏ hoạt động. Hàm lượng kali trong rỉ mật cao.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-06-04-su_dung_phu_pham_nong_nghiep_trong_chan_nuoi.nxUtFoE77Z.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-68636/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
Sử dụng phụ phẩm nông nghiệptrong chăn nuôi
Thân cây bắp sau thu hoạch có giá trị dinh dưỡng cao nhất trong tất cả
các loại phụ phế phẩm từ ngũ cốc, và vì thế nó có tiềm năng lớn trong việc
cải thiện dinh dưỡng cho gia súc. Theo kết quả nghiên cứu của chúng tui
(Đinh Văn Cải và cộng tác 1999) thì thân cây bắp sau thu hoạch có 25-26%
chất khô; 32% xơ thô; 68,7% NDF; Tỷ lệ tieu hoá chất hữu cơ: 53,3% và
năng lượng trao đổi cho trâu bò: 7,46 MJ/kg chất khô. Cản trở lớn nhất đối
với việc sử dụng thân cây bắp sau thu hoạch là khô cứng vì vậy cần thiết bị
cán dập, chặt ngắn, phơi khô trước khi cho ăn hay phơi khô dùng dần.
Rơm rạ ở nước ta có khối lượng rất lớn nhưng tỷ lệ sử dụng trong
chăn nuôi trâu bò còn rất khiêm tốn. Phần lớn chúng được sử dụng làm chất
đốt (ở miền Bắc), hay đốt trực tiếp ngoài ruộng làm phân bón ruộng, một
lượng nhỏ được sử dụng làm nấm rơm (ở miền Nam). Rơm rạ có thể sử
dụng như một nguồn thức ăn chính để nuôi trâu bò cày kéo, sinh sản. Rơm
rạ còn là nguồn xơ rất tốt để phối hợp với thức ăn nhuyễn, những thức ăn bổ
sung đắt tiền khác trong chăn nuôi bò sữa và vỗ béo bò thịt..
Rơm rạ kềnh càng hơn và chất lượng thấp hơn thân cây bắp. Nếu chỉ
cho ăn một mình rơm lúa thì gia súc chỉ ăn được một số lượng nhỏ. Rơm lúa
rất giàu Kali hòa tan nhưng thiếu Canxi (Ca) có khả năng hấp thu., vì thế gia
súc được nuôi dưỡng bằng rơm lúa là chính thì cần bổ sung thêm nguồn
Ca dễ tiêu. Rơm lúa còn có thành phần lignin thấp (6-7%) nhưng thành phần
Silic cao (12-16%) so với các loại phế phẩm cây trồng khác (thường có
khoảng 10-12% Silic). Thành phần Silic cao là nguyên nhân chính dẫn đến
tỷ lệ tiêu hóa kém. Phần thân lúa được tiêu hóa nhiều hơn lá vì thế nên gặt
lúa ở mức càng thấp càng tốt.
Khẩu phần chủ yếu là rơm lúa với một lượng nhỏ thức ăn bổ sung sẽ
làm cho bê tăng trưởng chậm, tuổi đẻ lứa đầu lúc 4-5 năm, còi xương và bò
có tỷ lệ đậu thai thấp.
Rơm rạ được ủ với 4-5% urea sẽ làm tăng tỷ lệ tiêu hoá (từ 39 lên
52%) giá trị năng lượng tăng từ 4,74 MJ lên 5,49 MJ/kg chất khô. Khả năng
ăn vào cuả trâu bò với rơm ủ cũng cao hơn so với rơm không ủ (2,6kg so với
1,6kg DM/100kg khối lượng).
Bã mía có giá trị năng lượng và protein rất thấp nhưng đây là một
nguồn xơ có ích. Có thể sử dụng đến 25% trong khẩu phần bò vắt sữa. Kinh
nghiệm vỗ béo bò vàng ở Trung Quốc của Xiaqing Zou và CTV cho thấy có
thể vỗ béo bò Vàng bằng khẩu phần thức ăn có: Bã mía (35-41%), rỉ mật
(5%) và thức ăn tinh (cám, bắp). Sau 100 ngày vỗ béo đạt tăng trọïng bình
quân: 866-921 gam/ngày
Khi ủ phụ phẩm nhiều xơ với urea hay bổ sung urea, một nguồn nitơ
rẻ tiền vào khẩu phần, sẽ đảm bảo sự gia tăng tỷ lệ tiêu hoá và khả năng ăn
vào của gia súc. Tiêu hoá xơ cũng được cải thiện rõ nét khi bổ sung thêm
một lượng nhỏ carbonhydrate dễ lên men như rỉ mật, xác mì, khoai lang,
cám…
Khi sử dụng nitơ phi protein, lưu huỳnh là yếu tố giới hạn chính đến
hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ. Một hỗn hợp gồm 90% urea và 10%
sulphat natri (Na2SO4) làm cho tỷ lệ N/S được cân bằng. Rơm rạ thường có
hàm lượng canxi, phospho và muối thấp. Việc bổ sung coban (Co), đồng
(Cu) sẽ cải thiện được khẩu phần dựa trên rơm rạ. Tỷ lệ tiêu hóa của rơm sẽ
được cải thiện một cách đáng kể nếu bổ sung 1.5-2% urea, 10% rỉ mật và
0.5% hỗn hợp khoáng (muối, P, Ca, S)..
Phụ phẩm xay sát
Cám gạo có chất lượng rất khác nhau tùy thuộc vào quy trình xay sát.
Cám gạo loại tốt thì có ít vỏ trấu nên hàm lượng xơ tổng số thấp (khoảng 6-
7%) giá trị TDN khoảng 70% và protein thô từ 13-14%, Năng lượng trao đổi
từ 12-12,5 MJ/kg chất khô. Cám gạo chất lượng xấu thì hàm lượng xơ có thể
lên đến 20%. Cám gạo loại tốt là một nguyên liệu thức ăn rất có giá trị vói
trâu bò, vì vậy giá cám gạo loại tốt cũng rất cao.
Hèm bia, bã rượu có protein thô từ 26%-32% (theo chất khô). Phụ
phẩm này được sử dụng ở dạng ướt, khô hay ủ ướp chung với rỉ mật và axít
hữu cơ. Hèm bia của các nhà máy bia của ta theo phân tích của chúng tui có
32% protein; 18% xơ (theo chất khô); tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ đạt 68% và
giá trị năng lượng trao đổi 12 MJ/kg chất khô (tương đương với cám gạo
loại tốt). Hèm bia vừa giàu đạm, vừa giàu năng lượng nên từ lâu đã được sử
dụng phổ biến để nuôi bò sữa. Độ ẩm cao là điều bất lợi chính trong việc dự
trữ và sử dụng các loại thức ăn này.
Khô dầu là phụ phẩm sau khi những hạt có dầu được ép vắt hay chế
biến để lấy dầu. Thí dụ như bánh dầu dừa, đậu phộng, hạt bông vải, cao su…
Protein thô của khô dầu dao động từ 20-40%. Khả năng phân giải protein và
số lượng dầu phụ thuộc vào phương pháp chế biến. Eùp bằng phương pháp
thủ công (ép vít) hàm lượng dầu còn khoảng 10% trong khi với phưong pháp
ép kiệt (trích ly) dầu chỉ còn 1%. Chất xơ cũng thay đổi rất nhiều phụ thuộc
vào chế biến và số lượng vỏ hạt.
Khô dầu dừa là nguồn năng lượng và protein có giá trị được sử dụng
một cách rộng rãi
Tuy nhiên, khả năng tiêu hoá protein của chúng thấp và thức ăn mau
bị ôi khét. Bánh dầu dừa phồng lên nhanh chóng khi thấm nước và có thể sử
dụng ở dạng này ở mức 50% trong khẩu phần
Khô dầu đậu phộng được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôibò thịt và
bò sữa. Hàm lượng xơ thấp và không có sự hạn chế nào trong việc sử dụng
cho gia súc nhai lại
Khô dầu bông vải chứa gossypol không hại đối với bò trưởng thành
nhưng khả năng tăng trọng của bò sẽ được cải thiện nếu thêm sulfat sắt vào
khẩu phần có nhiều bánh dầu bông vải. Có thể sử dụng 10-15% bánh dầu
bông vải trong thức ăn hỗn hợp cho bê, đối với bò thịt có thể sử dụng 30%.
Hạt bông vải nguyên cũng được sử dụng để thay thế một phần thức ăn
tinh. Hạt nguyên loại tốt chứa khoảng 20% dầu và 19% protein. Vỏ hạt bông
vải chứa nhiều xơ (50% CF) nhưng vẫn có thể sử dụng ở mức 30% trong
khẩu phần bò thịt. Thí nghiệm vỗ béo bò thịt của Lê Viết Ly đã thành công
khi sử dụng khẩu phần vỗ béo có 2 kg hạt bông+ 2kg rỉ mật+ rơm ủ urea.
Khô dầu đậu nành thường đắt và được sử dụng cho gia súc dạ dày
đơn. Vỏ hạt đậu nành chứa 37% CF, 12% CP và giá trị năng lượng tương
đương với hạt ngũ cốc là một loại thức ăn có giá trị cho tất cả các loại trâu
bò.
Một hạn chế chung trong việc sử dụng khô dầu cho chăn nuôi là hàm
lượng dầu còn lại trong phụ phẩm cao nên hay bị ôi khét, thời gian bảo quản
ngắn. Điểm bất lợi nữa là khô dầu dễ bị nhiễm nấm Aspergillus sẽ sinh ra
độc tố Aflatoxin, đặc biệt là ở khô dầu đậu phộng. Khắc phục được các hạn
chế đó, phụ phẩm hạt lấy dầu là nguồn protein có giá trị trong chăn nuôi
Rỉ mật được sử dụng trong chăn nuôi để cải thiện tính ngon miệng, bổ
sung một số chất khoáng. Rỉ mật còn được sử dụng như một thức ăn bổ sung
năng lượng cho khẩu phần thức ăn thô chất lượng kém. Với một hàm lượng
đường dễ...