mafiaboy2001
New Member
Download miễn phí Luận văn Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam hiện nay
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT LĨNH VỰC HẢI QUAN 5
1.1. Các khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước bằng pháp luật lĩnh vực hải quan 5
1.2. Đặc điểm, nội dung của quản lý nhà nước bằng pháp luật lĩnh vực hải quan 20
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT LĨNH VỰC HẢI QUAN 36
2.1. Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan 36
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan 51
2.3. Thực trạng vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật hải quan 58
2.4. Nguyên nhân hạn chế hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật lĩnh vực hải quan 61
Chương 3: YÊU CẦU KHÁCH QUAN, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT LĨNH VỰC HẢI QUAN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 67
3.1. Yêu cầu khách quan tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật lĩnh vực hải quan ở Việt Nam hiện nay 67
3.2. Quan điểm chỉ đạo tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan 73
3.3. Giải pháp cơ bản tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan 86
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 120
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-03-24-luan_van_tang_cuong_quan_ly_nha_nuoc_bang_phap_lua.kJJmdFysVl.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-64126/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
ngân sách Nhà nước diễn ra kéo dài, đặc biệt nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế-xã hội, gây thất thoát số lượng không nhỏ ngân sách nhà nước. Điều này có nguyên nhân do nội dung quy định của pháp luật và việc triển khai thiếu chặt chẽ, chưa đánh giá, nhận định, dự kiến được hết các hậu quả tiêu cực có thể xảy ra trong quá trình thực hiện Luật. Mặt khác, cũng bộc lộ yếu kém về trình độ, về cơ chế quản lý, về quan hệ phối hợp thiếu chặt chẽ giữa các ngành chức năng liên quan đến kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm Luật Thuế giá trị gia tăng [36, tr.27-28].2.2.3. Thực trạng thực hiện nội dung pháp luật về thủ tục hải quan.
Để kịp thời áp dụng Luật Hải quan(01-1-2002), cuối năm 2001, 12 quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan áp dụng cho các loại hình XNK hàng hoá, XNC phương tiện vận tải đã được ban hành[75].
Qua hơn một năm áp dụng thủ tục hải quan mới, thực tế đã cho thấy, những ưu điểm nổi bật, là: 1, đã đáp ứng được yêu cầu thực tế đổi mới, phù hợp mục tiêu cải cách hành chính, so với trước đây, đã loại bỏ bớt các khâu không cần thiết, rút ngắn thời gian tiến hành thủ tục, giảm bớt các giấy tờ doanh nghiệp phải nộp; 2, quá trình tổ chức áp dụng được quán triệt theo phương châm “tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp”; “đơn giản hoá, công khai hoá và từng bước hiện đại hoá”, và phải: giảm sự phiền hà về giấy tờ, đơn giản về các khâu trong thủ tục; chống tiêu cực, gây phiền hà, ách tắc; giảm các chi phí không cần thiết, không đáng có, nhưng, phải đảm bảo QLNN chặt chẽ, đúng pháp luật; phải phòng, chống, ngăn ngừa, hạn chế được buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế trong các hoạt động XNK hàng hoá, XNC phương tiện vận tải. Quy trình thủ tục được đơn giản hoá, từ chỗ một lô hàng phải qua 17 công chức giải quyết, nay chỉ cần 7 hay 8 người, riêng lô hàng miễn kiểm tra chỉ cần 3 hay 5 người, đã góp phần giải toả ách tắc, giảm thời gian làm thủ tục: lô hàng nhập khẩu nếu trước đây cần ít nhất một ngày, nay chỉ từ 1-2 giờ; lô hàng nhập khẩu trước đây là 2 ngày, nay tối đa 1 ngày; chứng từ phải nộp hay xuất trình số lượng so với trước đây, đã giảm đáng kể: đối với hàng xuất khẩu(bình thường là 4 loại, phức tạp là 7 loại), nhập khẩu (bình thường là 6 loại, phức tạp là 12 loại)[6], nên, “đa số các DN đều khẳng định Luật Hải quan và các quy trình TTHQ đã đem lại cho DN nhiều yếu tố thuận lợi, như giảm bớt thời gian làm TTHQ cho từng lô hàng XNK, giảm chi phí lưu kho, lưu bãi, phương tiện vận tải của các DN; gắn trách nhiệm pháp lý đối với DN trong khai báo làm TTHQ đối với hàng hoá XNK; doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật đều được quyết định thông quan hàng hoá XNK, phương tiện vận tải XNC nhanh chóng”; “thời gian luân chuyển hồ sơ và hoàn thành TTHQ cho từng lô hàng XNK nhanh hơn so với trước khi thực hiện Luật Hải quan, nhất là các lô hàng XK. Cơ bản các lô hàng XNK đều được thông quan trong ngày, nhiều lô hàng được thông quan chỉ trong thời gian 20-30 phút”[26, tr.12].
- Năm 2002, ngành Hải quan đã làm thủ tục XNK cho 1.125.819 tờ khai, so với năm 2001, tăng 27%(892.070 tờ khai); tám tháng đầu năm 2003: làm thủ tục NK là 474.100 tờ khai, so với cùng kỳ năm 2002, tăng 23%(385.789 tờ khai), làm thủ tục XK là 428.323 tờ khai, so với cùng kỳ năm 2002, tăng 24% (345.661 tờ khai)[6].
Bên cạnh kết quả trên, việc thực hiện pháp luật về TTHQ vẫn tồn tại, bộc lộ không ít những yếu kém, bất cập, đó là: 1, tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức hải quan được bố trí, sắp xếp làm nghiệp vụ TTHQ tại các cửa khẩu chưa thông thạo kỹ năng, trình độ, kiến thức chuyên môn hạn chế, dẫn đến giải quyết công việc không dứt điểm, không làm hết chức năng; còn có tư tưởng trông chờ, dựa dẫm, ỷ lại chỉ đạo từ cấp trên; 2, việc khai hải quan bằng phương pháp thủ công vẫn phổ biến, khai bằng điện tử mới chỉ thực hiện thí điểm ở một số khu vực, địa bàn, và khai bằng điện tử vẫn không tránh khỏi phải nộp đủ hồ sơ, chứng từ hải quan, nên vẫn không giải quyết dứt điểm khỏi phiền hà.
2.2.4. Thực trạng thực hiện pháp luật về kiểm tra, giám sát hải quan.
Hoạt động kiểm tra, giám sát hải quan, sau khi ban hành Luật Hải quan đã có nhiều ưu điểm và đột phá quan trọng, là một bước tiến mới để thực hiện mục tiêu cải cách hành chính, giải phóng nhanh hàng hoá ở cửa khẩu, theo phương châm:“giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm”. Điều này được thể hiện: một là, đưa vào áp dụng cách quản lý hiện đại-quản lý rủi ro-đó là việc áp dụng cách miễn kiểm tra thực tế hàng hoá, kiểm tra xác xuất thực tế hàng hoá không quá từ 3% đến 5% đối với hàng xuất khẩu và từ 5% đến 10% đối với hàng nhập khẩu và chỉ áp dụng kiểm tra thực tế hàng hoá 100% khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan hay đã nhiều lần vi phạm pháp luật hải quan trong thời hạn 2 năm; hai là, tiêu chí áp dụng một trong các hình thức kiểm tra thực tế “lô” hàng hoá được xác định dựa trên cơ sở quá trình chấp hành pháp luật của chủ (người khai hải quan, chủ sở hữu hay người thay mặt sở hữu) hàng hoá XNK; ba là, miễn kiểm tra thực tế hàng hoá áp dụng trong trường hợp: chủ hàng có quá trình XK hàng hoá 1 năm hay lô hàng NK của chủ hàng có quá trình 2 năm nhập khẩu chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hải quan với hình thức phạt tiền theo thẩm quyền của Chi cục trưởng Hải quan. Số liệu thực tiễn phản ánh “qua 3 tháng thực hiện Luật Hải quan, đã có 73,4% hàng XK không phải kiểm tra hải quan, chỉ có 4% phải kiểm tra 100%, số còn lại là miễn kiểm tra. Thời gian thông quan đối với 1 lô hàng XK khoảng 30 phút, đối với 1 lô hàng NK là 2 tiếng”[26, tr.12].
Qua hơn một năm thực hiện Luật Hải quan, lượng hàng hoá kiểm tra thực tế giảm đáng kể, trung bình hàng XK là 57,11%, hàng NK là 16,88%; kiểm tra xác xuất theo tỷ lệ: hàng XK là 28,36%, NK là 50,36%[6].
Bên cạnh những ưu điểm trên, cũng còn tồn tại không ít những yếu điểm, bất cập, đó là: 1, công tác cải cách, hiện đại hoá thu thập dữ liệu, xử lý thông tin, quản lý rủi ro liên quan đến đối tượng làm TTHQ, cũng như việc phân loại doanh nghiệp, tổ chức để có cơ sở quyết định các hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá XNK còn nhiều bất cập, thiếu thông tin hay thông tin chưa đủ tin cậy; tình trạng tỉ lệ hàng hoá áp dụng kiểm tra thực tế 100% vẫn còn nhiều; 2, việc kiểm tra, giám sát chủ yếu vẫn là hình thức thủ công, chủ yếu vẫn phải kiểm tra bằng “mắt”, bằng “tay”, kết quả vẫn dựa nhiều vào cảm quan, “võ đoán”, vì cán bộ kiểm hoá không thể trang bị được kiến thức thương phẩm học của hàng chục nghìn mặt hàng; 3, cán bộ kiểm hoá vẫn phải tiếp xúc trực tiếp với “người khai hải quan”, nên không tránh khỏi có sự “mặc cả”, tiêu cực, chênh lệch giữa thực tế và hồ sơ khi phân loại, áp mã hàng hoá; 4, việc triển khai nối mạng dữ liệu điện tử giữa Hải quan địa phương với các cơ quan nhà nước chức năng...